- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quốc Kháng cùng đồng bon - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Trần Quốc K và Dương Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2022/HS-ST Ngày 15 - 11 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hồ Thanh Phong
Ông Tạ Thanh Bự
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Cẩm Tú là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên toà: Ông Phạm Hoài Hận - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Trần Quốc K , sinh ngày 27/9/1998 tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp Cầu Ván, xã Quách P , huyện Đ , tỉnh C ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc Lẹ và bà Lê Thanh N ; vợ: Nguyễn Thị Thúy T và 01 người con; tiền án; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị tạm giữ ngày 21/6/2022 chuyển tạm giam ngày 28/6/2022. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Dương Văn Đ , sinh năm 1997 tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp Cầu Ván, xã Q , huyện Đ , tỉnh C ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Hoàng Đ và bà Tiêu Thị C ; vợ: Chưa; tiền án; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị tạm giam ngày 28/8/2022. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 21.6.2022, Trần Quốc K và Dương Văn Đ thống nhất với nhau việc mua ma túy về sử dụng. Đảm điều khiển phương tiện chở K đến khóm 1, thị trấn Đầm Dơi, huyện Đầm Dơi mua ma túy. Sau khi mua xong, trên đường về thì bị lực lượng Công an huyện Đầm Dơi kết hợp với Công an thị trấn Đầm Dơi kiểm tra và bắt quả tang K tàng trữ 01 gói ma túy loại Methamphetamine với khối lượng 0,5228gam.
Bản Kết luận giám định số 173/KL-KTHS ngày 24.6.2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận như sau:
Tinh thể màu trắng bên trong gói nilon được hàn kín, niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5228gam, loại Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave anpha màu trắng biển kiểm soát 59P2-72401 đã trả lại cho chủ sở hữu Hồ Khánh L .
- 01 phong bì hoàn mẫu số 173/KL-KTHS ngày 24.6.2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau được nêm phong kín. Bên trong có chứa 0,3378gam tinh thể màu trắng sau khi trích giám định, 01 phong bì hình chữ nhật, 01 bọc nilon dùng để gói tinh thể màu trắng.
- 01 Iphone 7 Plus có gắn sim số 0914.268.360 và 5.367.000 đồng của Trần Quốc K .
- 01 điện thoại Iphone XR có gắn sim số 0918.264.484 và 2.540.000 đồng của Dương Văn Đ .
Tại bản Cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 17 tháng 10 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi truy tố các bị cáo Trần Quốc K và Dương Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát bảo vệ toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Quốc K và Dương Văn Đ mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Trần Quốc K số tiền 5.367.000 đồng; trả lại cho bị cáo Dương Văn Đ 01 điện thoại Iphone XR có gắn sim số 0918.264.484 và 2.540.000 đồng.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 Iphone 7 Plus; Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn mẫu số 173/KL-KTHS ngày 24.6.2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau được niêm phong kín. Bên trong có chứa 0,3378gam tinh thể màu trắng sau khi trích giám định, 01 phong bì hình chữ nhật, 01 bọc nilon dùng để gói tinh thể màu trắng và 01 sim số 0914.268.360.
Đối với xe môtô nhãn hiệu Wave anpha màu trắng biển kiểm soát 59P2-72401 đã trả lại cho chủ sở hữu Hồ Khánh L nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Bị cáo Trần Quốc K và Dương Văn Đ mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không tranh luận.
Bị cáo K nói lời sau cùng: Từ khi bị cáo bị tạm giam đến nay, bị cáo ăn năn hối cải. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo về nuôi vợ và chăm sóc con nhỏ.
Bị cáo Đ nói lời sau cùng: Từ khi bị cáo bị tạm giam đến nay, bị cáo ăn năn hối cải nên xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để sớm về sống có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đầm Dơi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa các bị cáo Trần Quốc K và Dương Văn Đ thừa nhận: Vào khoảng 20 giờ ngày 21.6.2022, Trần Quốc K và Dương Văn Đ đang nhậu với nhau thì K rủ Đ cùng nhau đi đến thị trấn Đầm Dơi mua ma túy về sử dụng, Đ đồng ý. K liên hệ qua điện thoại di động với người tên H qua mạng xã hội facebook để xin số điện thoại người bán ma túy. Sau đó, K dùng điện thoại Iphone 7 Plus số sim 0914.268.360 liên hệ người bán ma túy và hẹn gặp giao dịch mua ma tuý. Sau đó, Đ điều khiển xe loại Wave anpha biển kiểm soát 59P2-724.01 chở K đến khu vực sân bóng Khả Ái mua 01 gói ma túy, K trả 400.000 đồng và cầm ma túy trên tay. Sau khi mua xong, trên đường về bị lực lượng Công an huyện Đầm Dơi kết hợp với Công an thị trấn Đầm Dơi kiểm tra và bắt quả tang K tàng trữ 01 gói ma túy loại Methamphetamine với khối lượng 0,5228 gam. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người quả tang, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ.
Do đó, hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,5228 gam Methamphetamine đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Do đó, Cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 17 tháng 10 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi đã truy tố các bị cáo Trần Quốc K và Dương Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất và mức độ về hành vi phạm tội của các bị cáo K và Đ gây ra là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Các bị cáo đã xâm phạm quy định về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, là khách thể được pháp luật nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép. Ma tuý hiện đang là hiểm hoạ của nhân loại bị xã hội lên án và loại trừ, bởi nó là nguyên nhân dẫn đến sự tha hoá về đạo đức, suy thoái về giống nòi, là nguy cơ tiềm ẩn làm phát sinh ra các loại tội phạm khác. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, khi phạm tội bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi vi phạm của các bị cáo còn gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân.
Về vai trò đồng phạm trong vụ án: Bị cáo Trần Quốc K là người khởi sướng, bỏ tiền mua ma tuý và đưa xe cho bị cáo Đ điều khiển xe đi mua ma tuý nên giữ vai trò chính trong vụ án. Bị cáo Dương Văn Đ là người được bị cáo K rủ rê và đồng tình hưởng ứng bằng việc dùng xe chở bị cáo Khánh đi mua ma tuý nên giữ vai trò thứ yếu trong vụ án.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết như: Các bị cáo có nhân tốt thể hiện việc các bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo K có ông ngoại Lê Văn Đ là thương binh 4/4, bị cáo Đảm có ông nội Dương Minh S được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì và nhiều người thân trong gia đình có công cách mạng nên cần cho các bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với vị cáo Đ phạm tội với vai trò giúp sức không đáng kể nên áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo.
Từ đó, Hội đồng xét xử có xem xét đầy đủ hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, đề nghị của đại điện Viện kiểm sát để áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra. Nên cần có mức án nghiêm khắc đối với các bị cáo, cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo có điều kiện học tập, lao động trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Đối với đối tượng tên H và người thanh niên bán ma túy, do hiện nay chưa xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan điều tra tách ra để điều tra làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.
Về hình phát bổ sung: Xét hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo chỉ nhằm mục đích sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu bản thân, không mang tính chất vụ lợi nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Điện thoại di động hiệu Iphone XR có gắn sim số 0918.264.484 và số tiền 2.540.000 đồng của bị cáo Dương Văn Đ và số tiền 5.367.000 đồng của bị cáo Trần Quốc K . Các bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo.
Đối với điện thoại Iphone 7 Plus và 01 sim số 0914.268.360 bị cáo K sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước điện thoại và tiêu huỷ sim điện thoại.
Đối với 01 phong bì hoàn mẫu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau được niêm phong kín bên trong có chứa 0,3378gam tinh thể màu trắng, 01 phong bì hình chữ nhật, 01 bọc nilon dùng để gói tinh thể màu trắng. Đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với xe môtô nhãn hiệu Wave anpha màu trắng biển kiểm soát 59P2-72401 do chủ sở hữu Hồ Khánh L không biết các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra trả lại cho ông L là có căn cứ nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Các bị cáo K và Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Trần Quốc K và Dương Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17 Bộ luật hình sự.
1.1. Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 6 năm 2022.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 54, Điều 17 Bộ luật hình sự.
1.2. Xử phạt: Bị cáo Dương Văn Đ 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28 tháng 8 năm 2022.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự:
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại hiệu Iphone 7 Plus.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn mẫu số 173/KL-KTHS ngày 24.6.2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau được nêm phong kín. Bên trong có chứa 0,3378gam tinh thể màu trắng sau khi trích giám định, 01 phong bì hình chữ nhật, 01 bọc nilon dùng để gói tinh thể màu trắng và 01 sim số 0914.268.360.
Trả lại 01 thoại di động hiệu Iphone XR có gắn sim số 0918.264.484 và số tiền 2.540.000 đồng cho bị cáo Dương Văn Đ và trả lại số tiền 5.367.000 đồng cho bị cáo Trần Quốc K . Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18 tháng 10 năm 2022.
3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Trần Quốc K và Dương Văn Đ mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng)
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Cơ quan Điều tra Công an huyện Đầm Dơi; - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Đầm Dơi; - Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; - Ủy ban nhân dân xã Q; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VT.Tòa án Đầm Dơi. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Giang Nam |