- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Phạm Văn P 15 (mười lăm) tháng tù về tội: "Trộm cắp tài sản" thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 09 tháng 6 năm 2022.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2022/HS-ST Ngày 25-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nhạn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Vĩnh;
Ông Vũ Văn Thôn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phan Xuân Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2022/TLST-HS, ngày 28 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:
Phạm Văn P, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 05/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đức V và con bà Hoàng Thị Y; bị cáo có vợ là Hoàng Thị M (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt truy nã, bị tạm giữ từ ngày 09 tháng 6 năm 2022 chuyển tạm giam ngày 15 tháng 6 năm 2022; có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Đồng Văn Q. Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Đồng Văn D và bà Nguyễn Thị L; đều trú tại: Thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 27 tháng 3 năm 2022, sau khi ăn đám cưới tại gia đình bà Nguyễn Thị V ở thôn P, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng, Phạm Văn P đi về thì nhìn thấy chiếc xe gắn máy nhãn hiệu ESPERO màu đỏ đen, BKS 15AE-009.52 của anh Đồng Văn Q (sinh năm 2005, trú tại: Thôn N, xã T) dựng ở bên kia đường đối diện nơi tổ chức đám cưới. Bên trong cốp xe, anh Q có để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart kiểu máy Star 5 đã qua sử dụng. Quan sát thấy một số người dân gần đó đang bận thu dọn đám cưới nên P đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe trên. P đi bộ về nhà ở thôn P, xã T lấy 01 vam phá khóa, đút vào túi quần rồi quay lại vị trí chiếc xe mô tô. P ngồi lên xe quan sát xung quanh thấy không có ai để ý nên đã dùng vam phá khóa mở ổ khóa xe rồi điều khiển xe chạy ra đường liên thôn. Nghe tiếng xe máy nổ, ông Nguyễn Phú N đang thu dọn phông bạt cưới gần đó chạy đuổi theo, bám vào đuôi xe mô tô do P đang điều khiển kéo lại nhưng do bị tuột tay nên đã không đuổi kịp. P đã điều khiển xe đi đến nghĩa trang Đ thuộc phường P, quận K, thành phố Hải Phòng thì phát hiện thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại xe Wave màu đen đeo BKS: 16M-0608 của chị Đặng Thị Thu T trú tại: Đ, phường P, quận K, thành phố Hải Phòng, dựng ở nghĩa trang không có người trông coi, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa nên P đã bỏ lại chiếc xe vừa chiếm đoạt được của anh Q và lấy chiếc xe mô tô BKS: 16M-0608 của chị T đi về nhà.
Ngày 27 tháng 3 năm 2022, anh Đồng Văn Q đã đến Công an xã Thái Sơn, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng trình báo mất trộm xe gắn máy nhãn hiệu ESPERO màu đỏ đen, BKS 15AE-009.52 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart kiểu máy Star 5.
Ngày 29 tháng 3 năm 2022, Công an phường Phù Liễn, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng đã chuyển 01 chiếc xe gắn máy nhãn hiệu ESPERO màu đỏ đen, BKS 15AE-009.52 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart kiểu máy Star 5 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão, thành phố Hải Phòng để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại kết luận định giá tài sản số 05/KL-ĐG ngày 08 tháng 4 năm 2022 và kết luận định giá tài sản số 29/KL-ĐG ngày 05 tháng 5 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện An Lão kết luận: 01 (một) chiếc xe gắn máy dung tích 49cc, nhãn hiệu ESPERO màu đỏ đen, đeo BKS: 15A-009.52, đã qua sử dụng, trị giá 4.000.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart kiểu máy Star 5 ốp lưng màu xanh, có số IMEI 1: 358877980419831, Số IMEI 2: 358877980419849 đã qua sử dụng, trị giá 1.000.000 đồng.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện An Lão đã trả lại cho bị hại Đồng Văn Q 01 chiếc xe gắn máy nhãn hiệu ESPERO màu đỏ đen, đeo BKS: 15A-009.52 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart kiểu máy Star 5.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão, thành phố Hải Phòng Quyết định khởi tố bị can số 91/QĐ-CQĐT ngày 13 tháng 5 năm 2022 và Quyết định truy nã số 10/QĐTN-CQĐT(ĐCSHS-KTMT) ngày 14 tháng 5 năm 2022 đối với Phạm Văn P.
Ngày 01 tháng 7 năm 2022, chị Đặng Thị Thu T có đơn trình báo với Công an phường Phù Liễn, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng về việc bị mất trộm xe máy nhãn hiệu Honda -Wave màu đen, BKS: 16M-0608. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Kiến An, thành phố Hải Phòng thụ lý giải quyết.
Bản Cáo trạng số 43/CT-VKS ngày 28 tháng 7 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng truy tố Phạm Văn P về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn P từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội:" Trộm cắp tài sản". Về hình phạt bổ sung đề nghị không phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Về vật chứng: Không có. Về án phí buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh, khung hình phạt:
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, lời khai làm chứng, phù hợp với biên bản thu giữ tang vật và kết luận định giá tài sản, phù hợp với kết quả nhận dạng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa. Nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 27 tháng 3 năm 2022, tại đường liên thôn Phủ Niệm 1, xã Thái Sơn, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng Phạm Văn P đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe gắn máy nhãn hiệu ESPERO màu đỏ đen, BKS: 15AE-009.52 và 01 chiếc điện thoại di động Vsmart kiểu máy Star 5 để trong cốp xe của anh Đồng Văn Q. Tổng tài sản mà Phạm Văn P chiếm đoạt trị giá là 5.000.000 đồng. Do vậy, hành vi của Phạm Văn P đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Do đó cần phải xử lý nghiêm và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng để cải tạo và giáo dục bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã thu lại trả cho bị hại và bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Phạm Văn P là lao động tự do, không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão đã trả lại bị hại Đồng Văn Q 01 chiếc xe gắn máy nhãn hiệu ESPERO màu đỏ đen, BKS: 15AE-009.52 và 01 chiếc điện thoại di động Vsmart kiểu máy Star 5. Đối với chiếc vam dùng để phá khóa bị cáo bị rơi nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Đồng Văn Q đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo Phạm Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử phạt: Phạm Văn P 15 (mười lăm) tháng tù về tội: "Trộm cắp tài sản" thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 09 tháng 6 năm 2022.
Về án phí: Bị cáo Phạm Văn P phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo Phạm Văn P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại Đồng Văn Q (ông Đồng Văn D và bà Nguyễn Thị L là người đại diện hợp pháp) có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP. Hải Phòng;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TP. Hải Phòng;
- Phòng PV06, PC10 CATP. Hải Phòng;
- Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
- VKSND huyện An Lão;
- Công an huyện An Lão;
- Chi cục THADS huyện An Lão;
- Bị cáo, bị hại;
- Lưu: Hồ sơ, HCTP.
Trần Thị Nhạn Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP. Hải Phòng;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TP. Hải Phòng;
- Phòng PV27, PC81 CATP;
- Sở Tư pháp;
- VKS ND huyện An Lão;
- Công an huyện An Lão;
- THA (HS);
- THA (DS);
- Bị cáo;
Nguyễn Tuấn Anh
- Lưu: Hồ sơ, HCTP.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Tuấn Anh
| Nơi nhận: - TAND TP. Hải Phòng; - VKSND TP. Hải Phòng; - Phòng PV27, PC81 CATP; - Sở Tư pháp; - VKS ND huyện An Lão; - Công an huyện An Lão; - THA (HS); - THA (DS); - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Anh |