vanban.org

Bản án 42/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị B. Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị B được ly hôn với ông Võ Văn V. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ MỸ
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2022/HNGĐ-ST
30-6-2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Hậu

2. Ông Nguyễn Thế Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 289/2021/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2021 về việc:“Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số ngày 30 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Bùi Thị B, sinh năm 1992

Địa chỉ: Tổ 2, ấp I, xã O, thi xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Bị đơn: Ông Võ Văn V, sinh năm 1986

Địa chỉ: Tổ 2, ấp I, xã O, thi xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên bà Bùi Thị B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Võ Văn V tự nguyện tìm hiểu, tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã O, huyện Tân Thành (Nay thị xã Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu vào năm 2010, số 26. Sau khi cưới nhau, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Vì bất đồng quan điểm sống, cách sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng, ông V nóng tính nên khi xảy ra mâu thuẫn ông V đôi khi sẽ hành hung bà nên tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Vợ chồng đã nhiều lần hòa giải, nộp đơn rồi rút đơn khởi kiện ly hôn tại Tòa án dể đoàn tụ nhưng không thành. Bà nhận thấy cuộc sống vợ chồng không còn hòa hợp nên vào năm 2020 bà quyết định sống ly thân với ông V, vợ chồng tuy chung sống chung nhà, nhưng đã riêng tư về mọi mặt. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng cả nội ngoài đều biết nhưng hai vợ chồng đã không thể tiếp tục chung sống với nhau nữa nên không hàn gắn.

Vì mục đích hôn nhân không đạt nên bà đã làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ để yêu cầu như sau:

Về hôn nhân: Bà Bùi Thị B yêu cầu được ly hôn với ông Võ Văn V

Về con chung: Quá trình chung sống giữa bà B và ông V có 02 con chung là cháu Võ Minh P, sinh ngày 16/12/2011 và cháu Võ Quốc M, sinh ngày 16/02/2014. Khi ly hôn bà B yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung và yêu cầu ông V góp cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 4.000.000đ (Bốn triệu đồng).

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa bà Bùi Thị B đề nghị được rút toàn bộ yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con. Bà B yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung cho đến khi con trưởng thành (Đủ 18 tuổi) và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

Trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Võ Văn V vắng mặt không cung cấp ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị B.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ thụ lý và giải quyết vụ việc trên là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng quy định của pháp luật. Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình, còn bị đơn không chấp hành quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ và lời khai có trong hồ vụ án cũng như sự trình bày của bà B tại Phiên tòa, xét thấy mâu thuẫn giữa bà B và ông V là có thật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B.

-Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao hai con chung cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng, ông V không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Căn cứ theo nội dung Đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, bị đơn có địa chỉ tại thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên xác định vụ việc giải quyết trên thuộc loại quan hệ về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về giải quyết vắng mặt bị đơn: Đối với ông Võ Văn V đã được Tòa án tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

Nội dung giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị B và ông Võ Văn V đã tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã O, huyện Tân Thành (Nay thị xã Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu vào năm 2010, số 26. Nên hôn nhân giữa bà B và ông V là hợp pháp.

Theo bà B trình bày, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cách sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng. Giữa bà và ông V đã ly thân, mâu thuẫn giữa hai bên, nội ngoại đều biết, bà không còn tình cảm với ông V nên bà không có ý định hàn gắn hôn nhân

Mặc dù, đây chỉ là lời khai một phía từ bà B không được ông V xác nhận, nhưng suốt quá trình tố tụng Tòa án đã triệu tập ông V nhiều lần nhưng ông không đến cũng như không cung cấp tài liệu chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của bà B, điều này thể hiện ông không có thiện chí hàn gắn hôn nhân với bà B.

Qua đó khẳng định mẫu thuẫn giữa bà B và ông V là trầm trọng, hôn nhân không thể hàn gắn. Từ đó Hội đồng xét xử nhận thấy mục đích hôn nhân giữa bà B và ông V không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu của ly hôn của bà B.

Về con chung:

Giữa bà B và ông V có có 02 con chung là cháu Võ Minh P, sinh ngày 16/12/2011 và cháu Võ Quốc M, sinh ngày 16/02/2014, bà B có nguyện vọng trực tiếp nuôi hai con chung khi ly hôn. Mặt dù ông V không có ý kiến phản hồi về con chung xét nguyện vọng của hai con chung đều muốn được ở với bà B khi bà và ông V ly hôn. Từ những phân tích đánh giá như trên, xét thấy giao con chung cho bà B trực tiếp nuôi đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi) là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà B yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, kinh tế bà B ổn định, có nguồn thu nhập thường xuyên nên nguyện vọng trên của bà B là có cơ sở nên cần chấp nhận

Về tài sản chung, nợ chung: Bà B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng không xem xét.

Về án phí: Bà B phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bà B và ông V được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị B.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị B được ly hôn với ông Võ Văn V.

- Về con chung: Giao cháu Võ Minh P, sinh ngày 16/12/2011 và cháu Võ Quốc M, sinh ngày 16/02/2014 cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi), nay buộc ông Võ Văn V phải giao hai cháu P và M cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, ông V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.

Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Bùi Thị B phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) và được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0006621 ngày 21 tháng 6 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Như vậy, bà B đã nộp xong tiền án phí.

3. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm (riêng đối với người vắng mặt thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai).

Cỡ chữ