vanban.org

Bản án 42/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Thị Thanh C.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Thanh C được ly hôn với ông Nguyễn Hữu M. Về quan hệ con chung: Bà Hồ Thị Thanh C tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Hồ DK, sinh ngày 08/6/2018.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Cúc ly hôn với ông Mừng"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Thị Thanh C.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 42/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 21/7/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT – TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mai Văn Tài;

2. Ông Hồ Văn Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Chau Chanh Đô Ra - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TT.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TT tham gia phiên tòa: Ông Chau Pho Ly – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 89/2022/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 3 năm 2022 về: “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2022/QĐXX- DS ngày 13 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Thanh C, sinh năm: 1997; địa chỉ cư trú: Tổ 05, khóm 1, thị trấn TT, huyện TT, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu M, sinh năm: 1996; cư trú: Tổ 12, ấp GC, xã LAT, huyện TT, tỉnh An Giang;

(Tại phiên tòa, bà C có mặt; ông M vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 07/02/2022 với các tài liệu kèm theo cũng như quá trình tố tụng tại tòa, bà Hồ Thị Thanh C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà với ông M được hình thành là do tự tìm hiểu, được cha mẹ đứng ra tổ chức đám cưới cho hai người vào năm 2017, hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND xã LAT, huyện TT, theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 71 ngày 23/11/2017. Cuộc sống chung hạnh phúc được đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân sau khi cưới hai vợ chồng cùng lên tỉnh Bình Dương làm công nhân, nhưng trong thời gian làm chung thì ông M lại quen biết và chung sống với người phụ nữ khác rồi bỏ bê vợ con, nên bà bỏ về nhà mẹ ruột và ly thân với ông M đến nay. Trong thời gian ly thân gia đình có đứng ra hàn gắn nhưng không thành. Nay bà tình cảm vợ chồng không còn, bà kiên quyết ly hôn với ông M.

Về quan hệ con chung: Bà với ông M có 01 con chung tên Nguyễn Hồ DK, sinh ngày 08/6/2018, hiện con chung là do bà nuôi. Khi ly hôn, bà yêu cầu tiếp tục nuôi và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung: Bà với ông M tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về quan hệ nợ chung: Bà với ông M không có nợ chung.

Tòa án đã thông báo hợp lệ cho ông Nguyễn Hữu M để tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông vẫn vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa, bà C bảo lưu ý kiến của mình. Riêng ông M đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng ông vẫn vắng mặt.

Quan điểm của Kiểm sát viên:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết đúng theo trình tự thủ tục, xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền xét xử. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự trong vụ án cũng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Bà C – ông M chung sống có đăng ký kết hôn, nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống ông M quen biết với người khác, bỏ bê vợ con, bà C bỏ về gia đình cha mẹ ruột sống và ly thân, gia đình có hàn gắn nhưng không thành…nên bà C xin ly hôn là có căn cứ. Về con chung, bà C yêu cầu nuôi, ông M không có ý kiến, yêu cầu của bà C là có căn cứ. Về tài sản chung và nợ chung không xem xét. Từ phân tích trên đề nghị HĐXX xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên. HĐXX nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Bà C khởi kiện: “Tranh chấp ly hôn” với ông M, là thuộc thẩm quyền của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; ông M có địa chỉ cư trú tại xã LAT, huyện TT, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện TT thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền. Ông M được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, nên HĐXX xét xử vắng mặt theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về quan hệ hôn nhân: Bà C – ông M kết hôn và chung sống với nhau vào năm 2017, hôn nhân có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số số 71 ngày 23/11/2017, nên xem là hôn nhân hợp pháp.

Tại phiên tòa, bà C bảo lưu ý kiến của mình, thể hiện do ông M quen biết và chung sống với người phụ nữ khác rồi bỏ bê vợ con…bà và ông M ly thân đã lâu, gia đình đứng ra hàn gắn nhưng không thành…

Qua trình bày của bà C, mặc dù ông M vắng mặt, nhưng tại biên bản xác minh vào ngày 13/6/2022 của Tòa án thể hiện: Khi vợ chồng C – M lên Bình Dương làm công nhân được khoảng 06 tháng thì C bỏ Bình Dương về nhà ẩm con và dọn đồ về nhà cha mẹ ruột C sinh sống. Cách sau đó M cũng từ Bình Dương về có xin đoàn tụ lại nhưng C không đồng ý. Là cha ruột của M, ông Nguyễn Văn S tìm hiểu thì được biết bởi do M có quen biết bạn bè với phụ nữ khác thì C phát hiện và bỏ M; M giải thích thế nào C cũng không nghe, với tính kiên quyết của C thì M cũng xác định hai người đoàn tụ nhau là không thể…

Với chứng cứ thu thập vừa nêu, xét mâu thuẫn giữa bà C – ông M đã thật sự trầm trọng; đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, HĐXX nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà C.

. Về quan hệ con chung: Xét thấy, cháu Nguyễn Hồ DK từ trước nay do bà C nuôi, tình cảm giữa cháu K với bà C đã thật sự gắn bó. Để không xáo trộn về tâm sinh lý của cháu K cũng như tạo điều kiện cho cháu phát triển tốt về sau, HĐXX nghĩ nên chấp nhận giao cháu K cho bà C tiếp tục nuôi là hoàn toàn phù hợp.

HĐXX cũng giải thích cho bà C biết: Trong thời gian nuôi con, bà C cùng người thân trong gia đình không được cản trở ông M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng bà C không yêu cầu nên HĐXX công nhận sự tự nguyện.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà C khai bà với ông M tự thỏa thuận về tài sản chung và không có nợ chung. Tuy nhiên do ông M vắng mặt, nên HĐXX không xem xét và không đề cặp ở phần quyết định. Nếu sau này ông M có chứng cứ khác chứng minh có tài san chung, có nợ chung và ông M có yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bà C là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; các bên không phải chịu án phí nào khác.

Vì các lẽ trên!

UY T ĐỊNH

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Thị Thanh C.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Thanh C được ly hôn với ông Nguyễn Hữu M.

Về quan hệ con chung: Bà Hồ Thị Thanh C tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Hồ DK, sinh ngày 08/6/2018.

Công nhận tự nguyện của bà Hồ Thị Thanh C không yêu cầu ông Nguyễn Hữu M cấp dưỡng nuôi con.

Bà C cùng người thân trong gia đình không được cản trở ông M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về án phí: Bà Hồ Thị Thanh C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0008208 ngày 25/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TT (bà C nộp đủ).

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/7/2022), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ