- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Touneh Nai D và K'B"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Touneh Nai D và ông K’B ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 42/2022/HNGĐ-ST. Ngày: 31-8-2022 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Lệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông K’Đào và ông Trần Thanh Hải
- Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Đông – Thư ký của Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông K’Dem - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 180/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2022 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Touneh Nai D, sinh năm 1988. Địa chỉ: thôn D, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Bị đơn: Ông K’B, sinh năm 1986. Địa chỉ: thôn K’B, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 15 tháng 6 năm 2022, trong quá trình xét xử và tại phiên tòa nguyên đơn bà Touneh Nai D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông K’B kết hôn ngày 22 tháng 01 năm 2009, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, trước khi kết hôn vợ chồng có tìm hiểu nhau khoảng hai năm. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn, do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, ông K’B uống rượu thường xuyên có hành vi bạo lực đánh đập bà, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 06 năm 2021 đến nay, không còn yêu thương, quan tâm nhau. Nay bà yêu cầu ly hôn ông K’B, việc ly hôn bà đã suy nghĩ kỹ và tự nguyện.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Touneh Nai Su Z, sinh ngày 24-9-2009 và K’Tô Gia V, sinh ngày 25-5-2015. Khi ly hôn bà yêu cầu giao con chung Touneh Nai Su Z, sinh ngày 24-9-2009 cho bà Tounch Nai D trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung K’Tô Gia V, sinh ngày 25-5-2015 cho ông K’B trực tiếp nuôi dưỡng; không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản:
Tài sản chung, vợ chồng đã tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài sản nợ chung: Nợ Ngân hàng C số tiền vay 30.000.000 đồng và tiền lãi, khi ly hôn vợ chồng đã thỏa thuận ông K’B là người có nghĩa vụ trả toàn bộ tiền vay gốc và lãi cho ngân hàng.
Tài sản nợ riêng đều không có. Khi ly hôn không yêu cầu giải quyết về tài sản.
Trong quá trình xét xử và tại phiên tòa bị đơn ông K’B trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Touneh Nai D kết hôn ngày 22 tháng 01 năm 2009, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi kết hôn vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nhỏ, có lần ông có hành vi bạo lực với bà Touneh Nai D nhưng chưa trầm trọng đến mức phải ly hôn, nay bà Touneh Nai D yêu cầu ly hôn thì ông không đồng ý ly hôn bà Touneh Nai D, nguyện vọng của ông vợ chồng về sống đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy con chung.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Touneh Nai Su Z, sinh ngày 24-9-2009 và K’Tô Gia V, sinh ngày 25-5-2015. Khi ly hôn ông yêu cầu giao con chung Touneh Nai Su Z, sinh ngày 24-9-2009 cho bà Tounch Nai D trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung K’Tô Gia V, sinh ngày 25-5-2015 cho ông trực tiếp nuôi dưỡng; không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản:
Tài sản chung, vợ chồng đã tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài sản nợ chung: Nợ Ngân hàng C số tiền vay 30.000.000 đồng và tiền lãi, khi ly hôn vợ chồng đã thỏa thuận ông là người có nghĩa vụ trả toàn bộ tiền vay gốc và lãi cho ngân hàng.
Tài sản nợ riêng đều không có. Khi ly hôn không yêu cầu giải quyết về tài sản.
Tòa án nhân dân huyện Di Linh đã thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho Ngân hàng C được biết. Tuy nhiên, Ngân hàng không thực hiện thủ tục khởi kiện theo quy định và không có mặt tại phiên họp nên Tòa án không giải quyết trong vụ án này.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay. Đại điện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận cho bà Touneh Nai D và ông K’B ly hôn, chấp nhận yêu cầu về giao con chung. Giao con chung là Touneh Nai Su Z, sinh ngày 24-9-2009 cho bà Tounch Nai D trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung K’Tô Gia V, sinh ngày 25-5-2015 cho ông K’B trực tiếp nuôi dưỡng; không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản không xem xét giải quyết. Buộc bà Touneh Nai D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Bà Touneh Nai D có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông K’B. Ông K’B hiện đang cư trú tại huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Do đó, căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Di Linh.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Bà Touneh Nai D và ông K’B tự nguyện kết hôn ngày 22 tháng 01 năm 2009, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Touneh Nai D và ông K’B là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, quan hệ vợ chồng của ông, bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng và mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, việc bà Touneh Nai D yêu cầu được ly hôn với ông K’B là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự, bản sao giấy khai sinh, có cơ sở xác định bà Touneh Nai D và ông K’B có hai con chung tên là Touneh Nai Su Z, sinh ngày 24-9-2009 và K’Tô Gia V, sinh ngày 25-5-2015. Khi ly hôn bà Touneh Nai D và ông K’B đều yêu cầu giao con chung Touneh Nai Su Z, sinh ngày 24-9-2009 cho bà Tounch Nai D trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung K’Tô Gia V, sinh ngày 25-5-2015 cho ông K’B trực tiếp nuôi dưỡng; không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, nguyện vọng của cháu Touneh Nai Su Z và K’Tô Gia V đều tự nguyện, không bị ai ép buộc; Hiện nay cháu Touneh Nai Su Z đang sống cùng với bà Touneh Nai D, cháu K’Tô Gia V đang sống cùng với ông K’B cần ổn định cuộc sống của các con chung; Bà Touneh Nai D và ông K’B đều có việc làm ổn định, có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con nên cần giao con chung Touneh Nai Su Z cho bà Touneh Nai D trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung K’Tô Gia V cho ông K’B trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Tài sản chung, vợ chồng đã tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản nợ chung: Nợ Ngân hàng C số tiền vay 30.000.000 đồng và tiền lãi, khi ly hôn vợ chồng đã thỏa thuận ông là người có nghĩa vụ trả toàn bộ tiền vay gốc và lãi cho ngân hàng. Tuy nhiên, Ngân hàng không thực hiện thủ tục khởi kiện theo quy định và không có mặt tại phiên họp nên Tòa án không giải quyết trong vụ án này, trường hợp có tranh chấp thì giải quyết bằng vụ án dân sự khác. Tài sản nợ riêng đều không có. Khi ly hôn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết về tài sản.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn bà Touneh Nai D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 và 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự;
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Touneh Nai D và ông K’B ly hôn.
2. Về con chung: Giao con chung Touneh Nai Su Z, sinh ngày 24-9-2009 cho bà Touneh Nai D trực tiếp nuôi dưỡng; Giao con chung K’Tô Gia V, sinh ngày 25-5-2015 cho ông K’B trực tiếp nuôi dưỡng; Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.
Quyền, nghĩa vụ thăm nom con; thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; thay đổi mức cấp dưỡng của các đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Buộc bà Touneh Nai D phải chịu án phí dân sư sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0006694 ngày 15 tháng 6 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh. Bà Touneh Nai D đã nộp đủ án phí.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
5. Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND Di Linh; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - UBND xã L, huyện Đ; - Chi cục thi hành án huyện Di Linh; - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký tên và đóng dấu) Huỳnh Thị Mỹ Lệ |