- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? [1] Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn NHTMCPSGTTvề việc yêu cầu CTTNHHTMĐTHKP phải trả cho NHTMCPSGTTtiền lãi phạt quá hạn là 7.
- Căn cứ chính? Điều 121 Bộ luật Dân sự; Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 42/2021/KDTM-ST Ngày: 30/11/2021 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Hồng Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.
2. Bà Lê Thị Khanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Bá Hùng Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 101/2020/TLST-KDTM ngày 17 tháng 12 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 207/2021/ QĐXXST-KDTM ngày 15 tháng 11 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: NHTMCPSGTT.
Địa chỉ: Phường 8, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, sinh năm 1973 - Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông D Kim C, sinh năm 1990. (có mặt)
Địa chỉ:, Phường 7, Quận GV, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo văn bản ủy quyền số: 91B/2021/UQ-CNGV ngày 18/3/2021)
2. Bị đơn: CTTNHHTMĐTHKP.
Địa chỉ: ấp ĐL, xã BĐ, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn D, sinh năm 1992 - Chức vụ: Giám đốc. (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp ĐL 1, xã BĐ, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Lê Văn T, sinh năm 1987. (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp ĐL 1, xã BĐ, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.2. Bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1990. (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp ĐL 1, xã BĐ, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.3. Ông Lê Văn D, sinh năm 1992. (có đơn xin vắng mặt)
3.4. Bà Phạm Thị Thanh T, sinh năm 1990. (có đơn xin vắng mặt)
3.5. Trẻ Lê Văn Gia H, sinh ngày 23/3/2020.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn D, sinh năm 1992 - là cha ruột của trẻ H. (có đơn xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp ĐL 1, xã BĐ, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản không tiến hành hòa giải được và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ông D Kim C trình bày:
Ngày 12/10/2016, NHTMCPSGTT(sau đây gọi là NHSGTT) có ký với CTTNHHTMĐTHKP (sau đây gọi là CTHKP) Hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số: LD1628600002 vay số tiền 600.000.000 đồng; thời hạn vay: 60 tháng; mục đích vay: bổ sung vốn kinh doanh; lãi suất tại thời điểm cấp tín dụng 9%/năm trong 06 tháng đầu tiên, từ tháng thứ 07 trở đi được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần trên cơ sở lãi huy động tiết kiệm VNĐ kỳ hạn 13 tháng trả lãi cuối kỳ của NHSGTT tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3,2%/năm; phương thức trả nợ: trả góp vốn lãi theo dư nợ giảm dần, kỳ trả nợ: ngày 05 hàng tháng; thời điểm trả hết nợ: ngày 12/10/2021. Trong Hợp đồng tín dụng trên, còn có ông Lê Văn T và bà Nguyễn Ngọc T cùng ký tên với tư cách bên bảo đảm.
Để đảm bảo cho khoản vay trên của CTHKP, ông Lê Văn T và bà Nguyễn Ngọc T đã thế chấp cho NHSGTT tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 153, tờ bản đồ số 58, tọa lạc tại địa chỉ: ấp ĐL 1, xã BĐ, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BM 776552, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 01436 do Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/12/2012 cho ông Lê Văn T và bà Nguyễn Ngọc T. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác số: 179/2016/TC-PGDHM ngày 12/10/2016 tại Phòng Công chứng số 5, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng: 37339, quyển số: 10 TP/CC-SCC/HĐGD.
Từ năm 2018 đến nay, CTHKP không thanh toán nợ vay cho NHSGTT theo đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng dù đã được Ngân hàng tạo điều kiện và nhắc nhở nhiều lần. Việc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của CTHKP đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi cũng như chất lượng tín dụng của Ngân hàng.
Tại phiên tòa, Ông D Kim C là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn NHSGTT xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu CTHKP phải trả tiền lãi phạt quá hạn là 7.848.085 đồng.
NHSGTT yêu cầu Tòa án giải quyết những nội dung sau:
- Buộc CTHKP phải trả ngay cho NHSGTT tổng số tiền tạm tính đến thời điểm xét xử ngày 30/11/2021 là 392.996.475 đồng, trong đó: nợ gốc 290.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 40.445.902 đồng và nợ lãi quá hạn 62.550.573 đồng.
Đồng thời, CTHKP phải chịu tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số: LD1628600002 ngày 12/10/2016 và Giấy nhận nợ số: 01/2016/GNN ngày 12/10/2016 cho đến khi trả hết nợ.
- Trường hợp CTHKP không trả được nợ thì NHSGTT có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Theo bản tự khai, bị đơn CTTNHHTMĐTHKP có người đại diện theo pháp luật ông Lê Văn D trình bày:
CTHKP thừa nhận có ký với NHSGTT Hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số: LD1628600002 ngày 12/10/2016 để vay số tiền 600.000.000 đồng, mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh.
Quá trình thực hiện hợp đồng, CTHKP đã thanh toán đầy đủ cho NHSGTT nhưng đến năm 2018 thì CTHKP gặp khó khăn, không thể trả nợ gốc và lãi đúng hạn cho Ngân hàng.
CTHKP đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn NHSGTT. Tuy nhiên, CTHKP đã mất khả năng thanh toán nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Theo biên bản lấy lời khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T trình bày ý kiến theo biên bản lấy lời khai như sau:
Ông Lê Văn T thừa nhận có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác số: 179/2016/TC-PGDHM ngày 12/10/2016 với mục đích bảo đảm cho CTHKP vay tiền kinh doanh tại NHSGTT.
Trong vụ án này, ông Lê Văn T không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn NHSGTT và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Trường hợp CTHKP không trả được nợ cho Ngân hàng ông Thiện đồng ý để NHSGTT phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Theo bản tự khai, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Ngọc T đã có bản tự khai trình bày ý kiến như sau:
Bà Nguyễn Ngọc T thừa nhận có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác số: 179/2016/TC-PGDHM ngày 12/10/2016 với mục đích bảo đảm cho CTHKP vay tiền kinh doanh tại NHSGTT.
Trong vụ án này, bà Nguyễn Ngọc T không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn NHSGTT và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Trường hợp CTHKP không trả được nợ cho Ngân hàng bà Thu đồng ý để NHSGTT phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Theo bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn D trình bày:
Ông Lê Văn D hiện đang cùng vợ là bà Phạm Thị Thanh T và con trai tên Lê Văn Gia H cư trú tại địa chỉ: ấp ĐL 1, xã BĐ, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là nhà đất mà ông Lê Văn T và bà Nguyễn Ngọc T đã thế chấp cho NHSGTT. Gia đình Ông D chỉ ở tạm để trông coi nhà trong thời gian ông Thiện chấp hành án.
Trong vụ án này, ông Lê Văn D không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Ông D sẽ chấp hành theo mọi quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Đồng thời, Ông D với tư cách là người đại diện theo pháp luật của trẻ Lê Văn Gia H có cùng ý kiến như đã trình bày.
Theo bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Thanh T trình bày:
Bà Phạm Thị Thanh T thống nhất với phần trình bày của ông Lê Văn D. Bà T đang cùng chồng con là Ông D và trẻ H cư trú tại địa chỉ: ấp ĐL 1, xã BĐ, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong vụ án này, bà Phạm Thị Thanh T không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Bà T sẽ chấp hành theo mọi quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã xác định đúng tư cách của người tham gia tố tụng, thu thập đầy đủ chứng cứ đúng quy định. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử áp dụng, tuân thủ đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định hợp đồng tín dụng các bên giao kết là đúng quy định của pháp luật. Việc bị đơn không trả tiền nợ gốc và tiền lãi cho nguyên đơn đúng kỳ hạn là đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo thỏa thuận trong hợp đồng đã ký. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: NHSGTT là chủ thể có đăng ký kinh doanh ký kết Hợp đồng tín dụng với CTHKP là chủ thể có đăng ký kinh doanh với nội dung cho CTHKP vay tiền để bổ sung vốn kinh doanh. CTHKP phải trả tiền lãi cho NHSGTT nên mục đích của các bên đều nhằm mục đích lợi nhuận. Do đó, đây là quan hệ tranh chấp về kinh doanh thương mại đối với hợp đồng tín dụng.
Bị đơn CTHKP có trụ sở tại địa chỉ: ấp ĐL, xã BĐ, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh hiện chưa đăng ký giải thể, nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn CTHKP có người đại diện theo pháp luật ông Lê Văn D, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn T, bà Nguyễn Ngọc T, bà Phạm Thị Thanh T, ông Lê Văn D đồng thời là người đại diện theo pháp luật của trẻ Lê Văn Gia H có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi phạt quá hạn là 7.848.085 đồng. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai đe dọa, ép buộc và trong phạm vi được ủy quyền, nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu đã xin rút theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu trả nợ của nguyên đơn NHSGTT. Nhận thấy CTHKP đã ký kết với NHSGTT các thỏa thuận tín dụng gồm:
- Hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số: LD1628600002 ngày 12/10/2016;
- Giấy nhận nợ số: 01/2016/GNN ngày 12/10/2016;
- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác số: 179/2016/TC-PGDHM ngày 12/10/2016;
- Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 12/10/2016.
Các hợp đồng nêu trên được giao kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung của hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 121, Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005, nên có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao kết hợp đồng.
Khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.
Quá trình giải quyết vụ án, CTHKP có người đại diện theo pháp luật ông Lê Văn D đã thừa nhận việc bên cho vay đã chuyển tiền cho bên vay theo Hợp đồng tín dụng, Giấy nhận nợ, CTHKP đã trả một phần nợ gốc và lãi cho NHSGTT, tuy nhiên hiện nay CTHKP đã mất khả năng thanh toán. Điều này chứng tỏ CTHKP không có thiện chí, không tích cực khắc phục hậu quả, gây thiệt hại đến quyền lợi chính đáng của NHSGTT, đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay tiền.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn NHSGTT về việc buộc CTHKP phải thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ tạm tính đến thời điểm xét xử ngày 30/11/2021 là 392.996.475 đồng.
Đối với yêu cầu về việc tính tiền lãi, phí phát sinh của NHSGTT, do các bên tự thỏa thuận về mức lãi suất trong Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ, nên căn cứ vào khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng, yêu cầu tính lãi này của NHSGTT được chấp nhận.
CTHKP còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi, phí khác phát sinh (nếu có) của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ đã ký cho đến khi trả hết nợ.
Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của NHSGTT cho vay thì lãi suất mà CTHKP phải tiếp tục trả cho Ngân hàng theo bản án của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của NHSGTT.
Do yêu cầu khởi kiện của NHSGTT được chấp nhận nên CTHKP phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng.
Tài sản thuộc quyền sử dụng, quyền sở hữu của ông Lê Văn T và bà Nguyễn Ngọc T được thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm để đảm bảo cho khoản vay cho CTHKP tại NHSGTT là Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số: một phần thửa 153; tờ bản đồ số 58 địa chỉ: xã BĐ, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: BM 776552, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 01436 do Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/12/2012 cho ông Lê Văn T và bà Nguyễn Ngọc T. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác số: 179/2016/TC-PGDHM ngày 12/10/2016 tại Phòng Công chứng số 5, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng: 37339, quyển số: 10 TP/CC-SCC/HĐGD.
Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Ghi nhận việc ông Lê Văn T và bà Nguyễn Ngọc T đồng ý để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc kê biên, phát mãi, xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp CTHKP không trả được nợ cho NHSGTT.
[4] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn là phù hợp.
[5] Về án phí: Nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, được chấp nhận yêu cầu khởi kiện còn lại nên không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 266 và Điều 267 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 3 Điều 4 Luật Thương mại năm 2005;
- Căn cứ Điều 121, Điều 122, Điều 342, Điều 351, Điều 355, Điều 471 và Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005;
- Căn cứ khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
[1] Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn NHTMCPSGTTvề việc yêu cầu CTTNHHTMĐTHKP phải trả cho NHTMCPSGTTtiền lãi phạt quá hạn là 7.848.085 đồng.
[2] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn NHTMCPSGTT.
[3] Buộc CTTNHHTMĐTHKP phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho NHTMSGTT toàn bộ số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số: LD1628600002 ngày 12/10/2016 và Giấy nhận nợ số: 01/2016/GNN ngày 12/10/2016 đã ký với NHTMCPSGTT.
Số tiền tạm tính đến ngày 30/11/2021 là 392.996.475 đồng, trong đó: nợ gốc 290.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 40.445.902 đồng và nợ lãi quá hạn 62.550.573 đồng. Thi hành ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 01/12/2021, CTTNHHTMĐTHKP còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi, phí khác phát sinh (nếu có) của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ đã ký cho đến khi trả hết nợ.
Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của NHTMCPSGTTcho vay thì lãi suất mà CTTNHHTMĐTHKP phải tiếp tục trả cho Ngân hàng theo bản án của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của NHTMCPSGTT.
[4] CTTNHHTMĐTHKP phải hoàn trả cho NHTMCPSGTTchi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng.
[5] Sau khi CTTNHHTMĐTHKP trả hết các khoản tiền nêu trên, NHTMCPSGTTcó nghĩa vụ hoàn trả cho CTTNHHTMĐTHKP, ông Lê Văn T và bà Nguyễn Ngọc T:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: BM 776552, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 01436 do Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/12/2012 cho ông Lê Văn T và bà Nguyễn Ngọc T.
Đồng thời tiến hành thủ tục xóa thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.
[6] Trong trường hợp CTTNHHTMĐTHKP không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền nêu trên thì NHTMCPSGTTcó quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành các biện pháp cưỡng chế, kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ đối với:
Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở tại một phần thửa 153; tờ bản đồ số 58 địa chỉ: xã BĐ, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: BM 776552, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 01436 do Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/12/2012 cho ông Lê Văn T và bà Nguyễn Ngọc T. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác số: 179/2016/TC-PGDHM ngày 12/10/2016 tại Phòng Công chứng số 5, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng: 37339, quyển số: 10 TP/CC-SCC/HĐGD.
[7] Về án phí: Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm CTTNHHTMĐTHKP phải chịu là 19.649.824 đồng. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Hoàn trả lại cho NHTMCPSGTTtiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.756.970 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2019/0077210 ngày 17 tháng 12 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
[8] Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
[9] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP HCM; - VKSND huyện Hóc Môn; - Chi cục THADS huyện Hóc Môn; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA Trịnh Hồng Hải |