vanban.org

Bản án 42/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 14/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Các Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh A, Lê Duy L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KỲ ANH - TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2021/HSST
Ngày: 14/09/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Nhưng, ông Phạm Thanh Tương

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Khang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Điệp, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 09 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh – tỉnh Hà Tĩnh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 18/2021/HSST ngày 07 tháng 05 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 23/2021/QĐXXST-HS ngày 01/06/2021 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Minh A - Tên gọi khác: Không

Sinh ngày 04 tháng 12 năm 1983 tại xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn Đức C , mẹ: Hoàng Thị L; Anh chị em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị Ánh Ng; Con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2003 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 06 năm tù về tội “Cướp tài sản” và 12 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” (tại bản án số 85/HSST ngày 25/09/2003 của TAND tỉnh Hà Tĩnh), đã xóa án tích; Biện pháp ngăn chặn: Bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 22/01/2021 cho đến nay.

Có mặt.

2. Họ và tên: Lê Duy L - Tên gọi khác: Không

Sinh ngày 07 tháng 09 năm 1979 tại Phường L, thành phố Th, tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn I, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Lê Ph, mẹ: Nguyễn Thị Phi V; Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị Ph; Con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2000 bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 07 năm tù về tội “Hiếp dâm” (tại bản án số 631 ngày 04/10/2000 của Tòa án phúc thẩm Tòa án tối cao tại Đà Nẵng), đã xóa án tích; Biện pháp ngăn chặn: Bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 22/01/2021 cho đến nay.

Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Duy L: Ông Võ Quốc H

Chức vụ và nơi công tác: Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý tỉnh Hà Tĩnh.

Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Thiều Sinh N

Sinh ngày: 15/05/1990; Nơi cư trú: Thôn I, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Có mặt.

2. Nguyễn Dũng A

Sinh ngày: 20/09/1984; Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng cuối năm 2020, Nguyễn Minh A đã mua của một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) ở thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh 01 gói ma tuý đá với giá 1.000.000đ rồi đem về chia thành các gói nhỏ đựng trong túi ni lông và cất giấu để sử dụng dần. Khoảng 19 giờ tối ngày 19/01/2021, khi Nguyễn Minh A đang ở nhà thì Lê Duy L đến, tại đây A và L rủ nhau sử dụng ma túy. Lê Duy L gọi điện cho Thiều Sinh N để mượn bộ dụng cụ sử dụng ma túy, khoảng 15 phút sau N đến và mang theo một bộ dụng cụ sử dụng ma túy, sau đó Nguyễn Minh A, Lê Duy L, Thiều Sinh N cùng nhau sử dụng ma túy. Khi các đối tượng sử dụng xong thì Nguyễn Dũng A đến chơi, sau đó Nguyễn Minh A cho Lê Duy L 01 gói ni lông bên trong có chứa ma túy đá để L về sử dụng. L cất gói ma túy mà A cho tại túi quần bên phải phía trước của mình đang mặc rồi đi ra đến trước cửa nhà Nguyễn Minh A lấy xe để về. Khi Lê Duy L vừa ra trước cửa nhà của Nguyễn Minh A lấy xe mô tô để về thì tổ công tác Công an huyện Kỳ Anh tiếp cận, yêu cầu kiểm tra và phát hiện, thu giữ tại túi quần bên phải của Lê Duy L 01 gói ni lông màu trắng hình chữ nhật được dán kín, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng đục, Lê Duy L khai đó là ma túy đá do L vừa xin được của Nguyễn Minh A để về sử dụng. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Minh A tổ công tác Công an huyện Kỳ Anh phát hiện và thu giữ thêm 01 gói ni lông tại nắp máy giặt đặt ở nhà tắm trong nhà Nguyên Minh A, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng đục và thu giữ một số dụng cụ sử dụng ma túy do N đưa đến.

Tại bản kết luận giám định số 50/GĐMT ngày 22 tháng 01 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: Chất tinh thể màu trắng đục đựng trong gói ni lông thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của Lê Duy L là Methamphetamine có khối lượng 0,1616 gam; chất tinh thể màu trắng đục đựng trong gói ni lông thu giữ trên máy giặt trong nhà Nguyễn Minh A là Methamphetamine có khối lượng 2,1828 gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, phần C, số thứ tự 323 ban hành kèm theo Nghị định 73 ngày 15/05/2018 của Chính phủ.

Quá trình điều tra Nguyễn Minh A, Lê Duy L đều thừa nhận hành vi tàng trữ và sử dụng ma túy của mình.

Vật chứng thu giữ và đã trả lại cho chủ sở hữu:

- 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 5 màu trắng, số Imei 013426007602529 gắn số thuê bao 0915469564 đã qua sử dụng (thu của Lê Duy Lộc);

- 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu NOKIA 105 màu đen, số seri 354198167567798, gắn số thuê bao 0398796761 đã qua sử dụng (thu của Lê Duy L);

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi NoA7 màu xanh, màn hình cảm ứng, gắn sim điện thoại số 0949472678 và 0853815678, đã qua sử dụng (thu của Nguyễn Minh A);

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh trắng, không gắn sim, đã qua sử dụng (thu của Nguyễn Minh A);

- 01 ví da màu đen nhãn hiệu DEABOLAR bên trong có 200.000 đồng tiền mặt, đã qua sử dụng, số tiền gồm 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 50.000.đồng đang có giá trị lưu hành trên thị trường (thu của Nguyễn Minh A);

- 01 chiếc ví da màu đen bên trong có chứa 01 Giấy chứng minh nhân dân số 2410421273 mang tên Lê Duy L và 01 đăng ký mô tô xe máy số 025303 mang tên Phan Văn T (thu của Lê Duy L);

Vật chứng thu giữ và chuyển theo hồ sơ vụ án:

- 01 phong bì dán kín bên trong có chứa 0,1473 gam Methamphetamine (đã lấy 0,0143 gam làm mẫu giám định) và 01 vỏ gói ni lông kích thước 2,2x1,1cm;

- 01 phong bì dán kín bên trong có chứa 2,1316 gam Methamphetamine (đã lấy 0,0512 gam làm mẫu giám định);

- Bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm:

+ 01 bình thủy tinh trong suốt, hình trụ tròn cao 10cm, đường kính phần lớn nhất 06cm, đường kính phần nhỏ nhất 03cm phần miệng lỗ bình có hình tròn đường kính 0,5cm;

+ 01 ống nhựa màu xanh dạng ống hút, một đầu nhọn, dài 09cm;

+ 01 ống nhựa hình trụ tròn dài 40cm, một đầu ống có gắn kim loại màu vàng, đường kính 0,5cm;

+ 01 ống nhựa hình trụ tròn dài 10cm, đường kính 0,5cm;

+ 01 ống thủy tinh hình trụ dài 10,5cm một đầu có hình cầu, bên trong có dính chất màu vàng nhạt;

+ 01 bật lửa bên ngoài có in dòng chữ Hoa Việt;

+ 01 thẻ cào điện thoại đã qua sử dụng.

(thu của Thiều Sinh N).

Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKSKA ngày 29 tháng 04 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh để xét xử đối với Nguyễn Minh A và Lê Duy L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh giữ quyền công tố sau khi phân tích các chứng cứ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự

- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh A, Lê Duy L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt:

Nguyễn Minh A từ 24 đến 30 tháng tù.

Lê Duy L từ 12 đến 18 tháng tù.

- Căn cứ các Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy các vật chứng đã thu giữ gồm: 02 phong bì bên trong có chứa ma túy, 01 vỏ gói ni lông và bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

- Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 – 12 – 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí, lệ phí Toà án kèm theo buộc mỗi bị cáo Nguyễn Minh A, Lê Duy L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo đồng tình với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Duy L đề nghị áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Duy L dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, vì lý do bị cáo phạm tội nhất thời, nhận thức hạn chế, nay đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hộ gia đình bị cáo là hộ nghèo.

Lời nói sau cùng các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

. Về thủ tục tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, thủ tục, căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại.

. Về tội danh: Các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng của mình, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và phù hợp với các vật chứng đã thu giữ đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 19 giờ 45 phút ngày 19/01/2021, tại nhà ở của Nguyễn Minh A, thuộc thôn Đồng Phú, xã Kỳ Đồng, huyện Kỳ Anh, tỉnh hà Tĩnh tổ công tác Công an huyện Kỳ Anh đã tiến hành kiểm tra, khám xét và phát hiện Lê Duy L đang tàng trữ trong túi quần mặc trên người 0,1616 gam Methamphetamine, Nguyễn Minh A đang tàng trữ tại nắp máy giặt đặt phía sau nhà tắm 2,1828 gam Methamphetamine. Số ma túy đó là của A mua của một người phụ nữ ở thành phố Hà Tĩnh không rõ nhân thân lai lịch với giá 1000.000 đồng đưa về. Sau khi cùng nhau sử dụng hết một phần thì A cho L một phần, còn bản thân giữ lại một phần, cả hai tàng trữ, cất giấu số ma túy đó để sử dụng.

Hành vi của Nguyễn Minh A và Lê Duy L đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, quyết định truy tố của Viện kiểm sát hoàn toàn chính xác.

. Về hình phạt:

Hành vi của A và L là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, nhân thân của hai bị cáo đều xấu do đó Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải có một hình phạt đủ nghiêm đối với 2 bị cáo.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa A và L đã khai báo thành khẩn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

A giữ vai trò cao hơn L, là người mua và phân phối số ma túy thu được ở cả 2 bị cáo, số lượng ma túy A tàng trữ nhiều hơn hẳn so với L.

Từ những phân tích đánh giá trên, Hội đồng xét xử nhận thấy mức hình phạt vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đề nghị đối với 2 bị cáo là phù hợp, tương xứng với, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân, vai trò của 2 bị cáo.

. Về vật chứng: Đối với các vật chứng đã được cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu Hội đồng xét xử không xem xét. Số vật chứng còn lại gồm ma túy, dụng cụ chứa đựng ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy đều là công cụ phương tiện phạm tội đồng thời là vật cấm lưu thông, vì vậy căn cứ các Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy

Về án phí: Mỗi bị cáo A, L phải phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 của Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án kèm theo.

. Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nguyễn Minh A, Lê Duy L, Thiều Sinh N có mặt, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Nguyễn Dũng A vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

- Các Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 – 12 - 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí, lệ phí Toà án kèm theo;

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh A, Lê Duy L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt Nguyễn Minh A 26 (Hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam: 22/01/2021.

- Xử phạt Lê Duy L 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam: 22/01/2021.

- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:

01 phong bì dán kín bên trong có chứa 0,1473 gam Methamphetamine (đã lấy 0,0143 gam làm mẫu giám định) và 01 vỏ gói ni lông kích thước 2,2x1,1cm;

01 phong bì dán kín bên trong có chứa 2,1316 gam Methamphetamine (đã lấy 0,0512 gam làm mẫu giám định);

Bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm:

+ 01 bình thủy tinh trong suốt, hình trụ tròn cao 10cm, đường kính phần lớn nhất 06cm, đường kính phần nhỏ nhất 3cm phần miệng lỗ bình có hình tròn đường kính 0,5cm;

+ 01 ống nhựa màu xanh dạng ống hút, một đầu nhọn, dài 09cm;

+ 01 ống nhựa hình trụ tròn dài 40cm, một đầu ống có gắn kim loại màu vàng, đường kính 0,5cm;

+ 01 ống nhựa hình trụ tròn dài 10cm, đường kính 0,5cm;

+ 01 ống thủy tinh hình trụ dài 10,5cm một đầu có hình cầu, bên trong có dính chất màu vàng nhạt;

+ 01 bật lửa bên ngoài có in dòng chữ Hoa Việt;

+ 01 thẻ cào điện thoại đã qua sử dụng.

Đặc điểm và tình trạng vật chứng có tại Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 05/05/2021 giữa Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Buộc mỗi bị cáo Nguyễn Minh A, Lê Duy L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo Nguyễn Minh A, Lê Duy L, anh Thiều Sinh N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Nguyễn Dũng A được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án.

Cỡ chữ