vanban.org

Bản án 42/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 31/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Xử phạt: Trương Văn N 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/5/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn Ng phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy' - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SẦM SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2021/HS-ST
Ngày: 31 - 8 - 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thơm

Bà Trịnh Thị Cúc

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2021/TLST- HS ngày 04 tháng 8 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2021/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Trƣơng Văn N - Sinh năm 1996, tại phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu phố X, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Văn V và bà: Nguyễn Thị T; Có vợ là Nguyễn Thị L và 03 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2021; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/5/2021, chuyển tạm giam từ ngày 15/5/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Sầm Sơn. Có mặt

Người chứng kiến: 1. Ông Hoàng Trọng T – SN 1956; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 5, xã Q, thành phố S, Thanh Hóa

2. Anh Nguyễn Công H – SN 1992; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 5, xã Q, thành phố S, Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 12h00 ngày 09/5/2021 tại thôn 5, xã Quảng Hùng, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tổ công tác của Công an xã Quảng Hùng, thành phố Sầm Sơn đã phát hiện, bắt quả tang Trương Văn N đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra phát hiện, thu giữ tại tay trái của N 01 túi nilon (KT: 1,5 x 1,5cm, bên trong túi nilon có chứa các hạt tinh thể màu trắng (N khai là ma túy đá). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trương Văn N và niêm phong 01 túi nilon có chứa các hạt tinh thể màu trắng (ký hiệu M) để trưng cầu giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 1566/PC09 ngày 11/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng trong bì thư niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,225g, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra Trương Văn N khai nhận: Vào khoảng 11h00 phút ngày 09/5/2021 Trương Văn N đi bộ từ nhà rồi đi nhờ xe của người đi đường, khi đi đến đoạn cây Vông thuộc xã Quảng Giao, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa gặp một người đàn ông lạ mặt, khoảng 40 tuổi, dáng người gầy (Giống người nghiện ma túy). N hỏi người này “Anh có biết chổ nào bán ma túy đá không”. Người này nói “Đưa tiền đây tao bán cho”. N đưa cho người này 300.000đ, người này cầm tiền và đưa lại cho N 01túi nilon màu trắng bên trong đựng “ma túy đá”. Sau khi mua được ma túy N cầm trên tay và đi bộ về nhà để sử dụng, khi đến khu vực thuộc địa phận thôn 5, xã Quảng Hùng, thành phố Sầm Sơn thì bị Công an xã Quảng Hùng phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật.

Vật chứng của vụ án: 01 (một) phong bì thư chứa chất ma tuý còn lại sau giám định được dán kín, niêm phong đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá. Được quản lý theo hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 39/CTr-VKS-HS ngày 03/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn truy tố Trương Văn N về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại đểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 47 BLHS.

Đề nghị tuyên bố: Trương Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Mức án đề nghị xử phạt Trương Văn N từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng, nên xem xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về phần án phí và vật chứng.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội không có ý kiến đề nghị tranh luận về tội danh, khung hình phạt, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho hưởng lượng khoan hồng của pháp luật và xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về phần thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc thu thập chứng cứ, ban hành các quyết định là khách quan, toàn diện và đầy đủ. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng.

. Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa Trương Văn N khai nhận vào khoảng 11h00 phút ngày 09/5/2021 Trương Văn N đi bộ từ nhà rồi đi nhờ xe của người đi đường, khi đi đến đoạn cây Vông thuộc xã Quảng Giao, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, Trương Văn N hỏi mua 300.000đ tiền ma túy túy đá (loại Methamphetamine) của người đàn ông lạ mặt, sau đó mang về nhà sử dụng, khi đến khu vực thuộc địa phận thôn 5, xã Quảng Hùng, thành phố Sầm Sơn thì bị Công an xã Quảng Hùng phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở khẳng định bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 BLHS. Do đó việc truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Trương Văn N đã đi đến khu vực cây Vông thuộc địa phận xã Quảng Giao, huyện Quảng Xương mua 300.000đ tiền ma túy đá, khi đang trên đường mang về nhà sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, làm mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe của bản thân bị cáo và xã hội, tác hại về kinh tế đối với gia đình đồng thời cũng là con đường dẫn đến lay lan một số căn bệnh nguy hiểm khác như HIV/AIDS, là một trong những N nhân làm gia tăng tình trạng phạm tội. Bị cáo bất chấp pháp luật và sự nguy hiểm của ma túy để lao vào con đường phạm tội. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

. Xét nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Do vậy khi lượng hình cũng nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Căn cứ vào tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng, nên xem xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Tang vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, đựng trong 01 phong bì thư do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, chữ viết: Nguyễn Trần Đăng, Trần Thị Thúy Hằng, Lê Quang Hưng, Lê Văn Hiếu và các hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Tang vật trên có tại biên bản giao nhận vật chứng số 34/BBVC-CCTHA ngày 04/8/2021 giữa Công an thành phố Sầm Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn.

Án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định tại Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 331, Điều 333 BLTTHS.

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Trương Văn N 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/5/2021.

Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, đựng trong 01 phong bì thư do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, chữ viết: Nguyễn Trần Đăng, Trần Thị Thúy Hằng, Lê Quang Hưng, Lê Văn Hiếu và các hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Tang vật trên có tại biên bản giao nhận vật chứng số 34/BBVC-CCTHA ngày 04/8/2021 giữa Công an thành phố Sầm Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST

Bản án này là sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ