vanban.org

Bản án 42/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 28/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo V V L, L V Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: V V L 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12 tháng 01 năm 2021. Xử phạt: L V Ch 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12 tháng 01 năm 2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "V V L, Kh V Ch tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo V V L, L V Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T D
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2021/HS-ST
Ngày 28-5-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T D - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vi Văn Cẩm

Bà Phạm Thị Phượng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lô Quốc Ất- Thư ký Toà án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T D tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Đinh Ngọc Quang- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2021/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: V V L Sinh ngày 05 tháng 5 năm 1980. Tại huyện T D, tỉnh Nghệ An Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản Ch L, xã M S, huyện T D, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Trồng trọt.

Trình độ văn hoá: 9/12 Dân tộc: Khơ Mú; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam Con ông: V X H (Đã chết) và con bà C Th L, sinh năm 1950. Vợ: M Th G, sinh năm 1987 và có 02 con chung lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2008. Tiền án, tiền sự: Không Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12 tháng 01 năm 2021 cho đến nay. Có mặt.

2. Họ và tên: L V Ch Sinh ngày 05 tháng 7 năm 1995. Tại huyện T D, tỉnh Nghệ An Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản Ch L, xã M S, huyện T D, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Trồng trọt.

Trình độ văn hoá: 9/12 Dân tộc: Khơ Mú; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam Con ông: L V Th, sinh năm 1964 và con bà L Th H, sinh năm 1969. Vợ: L Th P, sinh năm 1996 và có 02 con chung lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12 tháng 01 năm 2021 cho đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Hoàng Thị Thu Hằng – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị L Th P, sinh năm 1996. Trú tại: Bản Ch L, xã M S, huyện T D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt không có lý do

- Người chứng kiến: Anh Cụt Văn Hiệp. Vắng mặt không có lý do

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 12/01/2021, V V L đi bộ từ nhà của mình đến nhà của L V Ch với mục đích rủ Ch chở đi mua ma túy về để cùng nhau sử dụng. L V Ch đồng ý và lấy chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu xanh đen, mang biển kiểm soát 37Z6-1609 của vợ mình là chị L Th P, rồi chở V V L sang bản Ph Kh, xã Tr L, huyện Q Ph. Đến nơi, L V Tr và V V L dừng xe để lại bên đường rồi cùng nhau đi bộ lên khu vực đồi bản Ph Kh thì gặp và hỏi mua của người đàn ông lạ mặt này 01 gói Heroine được gói bằng bao Potylen màu đen với giá 100.000đ, rồi cùng với L V Ch sử dụng hết gói Heroine này ngay tại chỗ. Sử dụng xong, V V L tiếp tục hỏi mua của người đàn ông này 01 gói Heroine được gói bằng bao potylen màu vàng với giá 1.000.000đ. Mua xong, V V L cầm gói ma túy vừa mua được rồi cùng L V Ch xuống nơi để xe máy để đi về. Đến 23 giờ 00 phút cùng ngày, khi L V Ch và V V L đi đến khu vực bản Ch L, xã M S, huyện T D thì bị tổ công tác Công an xã M S, huyện T D, tỉnh Nghệ An bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong lòng bàn tay trái của V V L 01 gói bằng bao potylen màu vàng bên trơng đựng chất bột màu trắng. V V L và L V Ch khai nhận số chất bột màu trắng là Heroine của L và Ch cùng đi mua về để sử dụng chung.

Kết luận giám định số 200/KL-PC09(Đ-MT) ngày 18/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất bột trắng thu giữ của V V L và L V Ch gửi tới giám định là Ma túy (Heroine), có khối lượng 4,15 gam.

Bản cáo trạng số 33/CT-VKS-TD ngày 05 tháng 4 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T D đã truy tố các bị cáo V V L, L V Ch về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt các bị cáo: V V L mức án 03 năm đến 04 năm tù ; L V Ch mức án 01 năm đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho các bị cáo; Xử lý vật chứng theo đúng quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho các bị cáo: Đề xuất áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật hình sự cho các bị cáo được mức án thấp nhất như lời đề nghị của Kiểm sát viên.

Các bị cáo V V L, L V Ch đồng ý với quan điểm truy tố của Kiểm sát viên, không có ý kiến, không tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công An huyện T D, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo V V L, L V Ch đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để khẳng định: Vào 23 giờ 00 phút, ngày 12/01/2021, tại bản Ch L, xã M S, huyện T D, tỉnh Nghệ An V V L và L V Ch đã có hành vi tàng trữ trái phép 4,15 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng. Như vậy hành vi của các bị cáo và khối lượng chất ma túy thu giữ của V V L, L V Ch đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Chính vì vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T D đã truy tố các bị cáo V V L, L V Ch theo tội danh và Điều luật, viện dẫn ở trên là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Đây là vụ án nghiêm trọng bởi hành vi phạm tội của các bị cáo phạm vào khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự, điều luật có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Các bị cáo là người có đủ năng lực pháp luật để chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương, vì ma tuý là chất gây nghiện rất cao, gây nguy hại cho sức khoẻ con người, làm ảnh hưởng xấu mọi mặt của đời sống xã hội, vì lẽ đó mà nhà nước ta nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, vận Chển, tàng trữ, sử dụng ma tuý dưới bất cứ hình thức nào đều bị coi là bất hợp pháp và bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Đây là vụ án có nhiều người tham gia thực hiện tội phạm với tính chất đồng phạm giản đơn nên cần phân hóa vai trò của từng người để áp dụng hình phạt sát đúng. Bị cáo V V L là người khởi xướng, sử dụng tiền của mình để rủ rê bị cáo Ch thực hiện tội phạm nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo Ch là thỏa đáng. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật và cần cách ly các bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi quyết định hình phạt thể hiện sự khoan hồng của nhà nước ta mà cải tạo mình thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho các bị cáo L, Ch. Các bị cáo không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ.

Đối với chị L Th P là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe máy mà Lô Văn Truy sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy, do chị Póm không biết việc các bị cáo lấy xe máy để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng quy định pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự lẽ ra cần áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo, song xét thấy các bị cáo là đối tượng nghiện, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, khó có khả năng thi hành nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 4,15 gam Heroine là vật cấm lưu hành không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu xanh đen, mang biển kiểm soát 37Z6-1609, quá trình điều tra đã xác định được đây là chiếc xe của chị L Th P (là vợ của L V Ch) và khi Ch lấy xe máy đi mua ma túy thì chị Póm không biết nên nên cần trả lại cho chị Póm là đúng với quy định của pháp luật

Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử xét thấy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo đúng quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố các bị cáo V V L, L V Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: V V L 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12 tháng 01 năm 2021.

- Xử phạt: L V Ch 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12 tháng 01 năm 2021.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Trả lại cho chị L Th P, sinh năm 1996. Trú tại: Bản Ch L, xã M S, huyện T D, tỉnh Nghệ An: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu xanh đen, mang biển kiểm soát 37Z6-1609

+ Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án là Heroine

(Tình trạng các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05.4.2021 giữa cơ quan Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T D, tỉnh Nghệ An);

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo

Các bị cáo V V L, L V Ch có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 28/5/2021. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ