vanban.org

Bản án 42/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Tuyên án 30/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn chấp hành phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 16/6/2021.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS; Tịch thu tiêu hủy 0,265 gam ma túy, loại Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định và 01 khẩu trang y tế màu trắng (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn chấp hành phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 16/6/2021.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2021/HS- ST
Ngày: 30- 7 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tú.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Hải.

2. Ông Phạm Xuân Sang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thành, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2021/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2021; đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1997 tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn N và bà Chu Thị L; chưa có vợ và con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/6/2021 đến nay (hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương). Có mặt.

Người làm chứng: Bà Phạm Thị D, sinh năm 1962; địa chỉ: thôn Q, xã T, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T là người nghiện ma túy tổng hợp. Khoảng 17 giờ ngày 16/6/2021, sau khi làm việc xong T ra khu vực cổng công ty TNHH GFT Việt Nam ở thôn T, xã C, huyện Tứ Kỳ, T đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết đi đến thôn Q, xã T, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương mục đích tìm mua ma túy sử dụng cá nhân. Khi đi tới thôn Q, xã T, huyện Tứ Kỳ, T xuống xe, đi bộ từ đường trục xã vào trong ngõ xóm thuộc thôn Q, xã T. Tại đây T gặp và mua 01 túi nilong màu trắng, kích thước (1,5x 1,5) cm bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, là ma túy tổng hợp (ma túy đá) của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ với giá 400.000 đồng. Sau đó T cất giấu gói ma túy vừa mua được vào giữa hai lớp khẩu trang y tế màu trắng, giấu chiếc khẩu trang này vào túi quần phía sau bên trái đang mặc rồi đi bộ từ trong ngõ ra khu vực chân Cầu Xe để bắt xe buýt về nhà. Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, khi T đi đến trục đường liên xã thuộc địa phận thôn Q, xã T (cách khu vực chân C, xã Q, huyện Tứ Kỳ khoảng 100 mét), thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm 01 chiếc khẩu trang y tế màu trắng, bên trong có 01 túi nilon màu trắng, kích thước (1,5x1,5) cm chứa các hạt tinh thể màu trắng. Thăng khai nhận đây là ma túy tổng hợp mua về cất giấu để sử dụng.

Tại kết luận giám định giám định số 333/KLGĐ-PC 09 ngày 18/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong túi nilon niêm phong trong phong bì ghi thu của Nguyễn Văn T gửi đến giám định có khối lượng 0,305gam ma túy, loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 41/CT-VKSTK, ngày 10 -7- 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (BLHS)

Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình công nhận quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ là đúng, bị cáo xác định đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như đã nêu trên và đề nghị HĐXX xem xét xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất.

Bà Phạm Thị D là người chứng vắng mặt, có lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ xác định: Khoảng 18 giờ ngày 16/6/2021 được chứng kiến việc lực lượng Công an thu giữ 01 chiếc khẩu trang y tế màu trắng, bên trong có 01 túi nilon màu trắng, kích thước (1,5x1,5) cm chứa các hạt tinh thể màu trắng Thăng khai nhận đây là ma túy tổng hợp mua để sử dụng cho bản thân.

VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX ) áp dụng điểm c khoản 1 của Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép ma túy”, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 13 đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 16/6/2021; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS tịch thu tiêu hủy: 0,265 gam ma túy, loại Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định và 01 khẩu trang y tế màu trắng; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với chính lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 16-6-2021, tại đường liên xã thuộc địa phận thôn Quan Lộc, xã Tiên Động, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Nguyễn Văn T có hành vi cất giấu trái phép 0,305 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác thuộc Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật song vẫn cố ý thực hiện tàng trữ 0,305 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng, nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Như vậy, Quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với bị cáo là hoàn toàn đúng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của nhà nước về quản lý các chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, nên cần phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, HĐXX cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo một thời gian thì mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người tốt và đấu tranh phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo bị nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 0,265 gam ma túy, loại Methamphetamine (do cơ quan giám định hoàn lại) là vật nhà nước cấm lưu hành và 01 khẩu trang y tế màu trắng không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu cho tiêu huỷ.

Trong vụ án, người cho T đi nhờ xe, người đàn ông bán ma tuý cho bị cáo, quá trình điều tra chưa làm rõ được tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS;

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn chấp hành phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 16/6/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS; Tịch thu tiêu hủy 0,265 gam ma túy, loại Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định và 01 khẩu trang y tế màu trắng (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 14/7/2021 ).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm ngày), kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ