vanban.org

Bản án 42/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu Tuyên án 25/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Phạm Xuân N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Xuân N: 02 (Hai) năm tù. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21/11/2020 đến ngày 30/11/2020. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Xuân N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Phạm Xuân N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG THỔ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2021/HS-ST
Ngày 25 tháng 3 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phàn A Long;

2. Bà Đào Thị Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lù Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2021/TLST-HS, ngày 08 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2021/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Xuân N, sinh năm 1966, tại huyện V, tỉnh Yên Bái. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Tổ X, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xuân C, sinh năm 1937, con bà Ngô Thị V, sinh năm 1938; bị cáo có vợ là Hoàng Thị Thúy L (đã ly hôn năm 2014); bị cáo có 02 con; tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: Tại Bản án số 05/2011/HSST, ngày 27/10/2011 của Tòa án nhân dân thị xã Lai Châu (nay là thành phố Lai Châu), tỉnh Lai Châu, bị cáo bị xử phạt 26 (Hai mươi sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Tại Bản án số 33/2014/HSST, ngày 12/3/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu, bị cáo bị xử phạt 26 (Hai mươi sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt, phần án phí của các bản án và đã được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/11/2020 đến ngày 30/11/2020, hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Anh Lý A P, sinh năm 1997, địa chỉ: Bản P, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt, không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 20/11/2020, tại khu vực cầu treo thuộc xã Phăng Sô Lin, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, khi Phạm Xuân N đi tìm mua củ sâm về làm thuốc chữa bệnh thì N gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh ni lon màu xanh buộc thắt lại với giá 1.000.000 đồng, mục đích N mua để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được Heroine, N cất giấu gói Heroine vào túi quần đang mặc, không cho ai biết, rồi đi xe ôm về khu vực nông trường cao su thuộc thôn Tây An, xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, còn người đàn ông đã bán Heroine đi đâu, N không biết. Sau khi về đến nông trường cao su, N đã lấy số Heroine ra sử dụng 03 lần. Sau mỗi lần sử dụng, N lại gói số Heroine còn lại như cũ và cất giấu trong túi quần đang mặc trên người. Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 21/11/2020, N cất giấu gói Heroine trong túi quần đang mặc rồi đi bộ một mình đến nhà chị Lò Thị S, sinh năm 1973, địa chỉ: Bản Đớ, xã Khổng Lào, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu để chơi nhưng thấy nhà chị Sinh không có ai ở nhà. N đi vào bàn uống nước lấy gói Heroine ra cầm trên tay, mục đích để sử dụng. Lúc này, có Lý A P vào nhà chị Sinh chơi, P không biết việc N đã đem theo gói Heroine trong người để sử dụng. Khi P ngồi vào bàn uống nước để hút thuốc lào thì có tổ công tác Công an huyện Phong Thổ và Công an xã Khổng Lào vào kiểm tra. Phạm Xuân N đã tự giao nộp cho tổ công tác 01 gói chất bột màu trắng, được gói ngoài bằng mảnh ni lon màu xanh, buộc thắt lại. N khai số chất bột màu trắng đó là Heroine, do N mua về để sử dụng cho bản thân. Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định, xác định được: Số chất bột màu trắng thu giữ của Phạm Xuân N là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 1,01 gam.

Tại bản Cáo trạng số: 11/CT-VKS, ngày 08 tháng 3 năm 2021, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Phạm Xuân N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng. Bị cáo không có tranh luận gì với luận tội của Kiểm sát viên và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Xuân N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Xuân N từ 22 (Hai mươi hai) tháng đến 25 (Hai mươi lăm) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, bên trong là 0,9 gam Heroine còn lại sau giám định, 01 mảnh ni lon cũ bị cáo đã dùng để gói Heroine và vỏ niêm phong cũ của vụ án. Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội mà bị cáo Phạm Xuân N đã thực hiện:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản mở niêm phong vật chứng; kết luận giám định; lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 21/11/2020, tại nhà ở của chị Lò Thị S, địa chỉ: Bản Đớ, xã Khổng Lào, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, tổ công tác Công an huyện Phong Thổ và Công an xã Khổng Lào đang làm nhiệm vụ đã phát hiện, bắt quả tang Phạm Xuân N đang tàng trữ 01 gói chất bột màu trắng, được gói ngoài bằng mảnh ni lon màu xanh buộc thắt lại. Phạm Xuân N khai nhận số chất bột màu trắng N giao nộp cho tổ công tác là ma túy, loại Heroine, do N mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật. Qua các kết quả trưng cầu giám định, xác định được: Số chất bột màu trắng thu giữ của Phạm Xuân N là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 1,01 gam.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ Heroine là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai số Heroine bị thu giữ là bị cáo mua của một người đàn ông, không rõ lai lịch cụ thể nên không có cơ sở để xác minh, điều tra làm rõ hành vi vi phạm pháp luật đối với người đã bán trái phép chất ma túy cho Phạm Xuân N trong vụ án này.

Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bố đẻ của bị cáo là người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân, năm 2011 và năm 2014, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu xét xử về các hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo đã 02 lần bị xử phạt 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Bị cáo đã chấp hành xong các bản án và đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cảnh tỉnh cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Số Heroine thu giữ của bị cáo đã được gửi đi giám định còn lại 0,9 gam, là vật cấm lưu hành; 01 mảnh ni lon bị cáo dùng để gói số Heroine và vỏ niêm phong cũ là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên bố:

1. Bị cáo Phạm Xuân N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Xuân N: 02 (Hai) năm tù. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21/11/2020 đến ngày 30/11/2020.

Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, bên trong có 0,9 gam Heroine, 01 mảnh ni lon màu xanh cũ và vỏ niêm phong cũ.

(Toàn bộ vật chứng hiện đang được lưu tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ