- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sùng Thị M phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Sùng Thị M phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý "
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁÍ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 42/2021/HS-ST Ngày: 12/11/2021 |
HUYỆN MÙ CANG CHẢI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁÍ - Với
thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Tòng Văn Quân. Các Hội thẩm thân dân: ông Nguyễn Đức Hải ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Thư ký phiên toà: ông Đào Bá Đạt- Thư ký Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải tham gia phiên toà: ông Đoàn Xuân Trường- kiểm sát viên. Trong ngày 12 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Lao Chải, Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2021/TLST- HS ngày 08 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2021/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo: Sùng Thị M- sinh năm 1970, tại huyện M, tỉnh Y; nơi cư trú: bản T, xã N, huyện M, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sùng A S và bà Lý Thị P (đều đã chết); có chồng là Chang Páo D, sinh năm 1967 và 06 con (con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 2014); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo là phụ nữ dân tộc thiểu số, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị kết án. Ngoài lần phạm tội này chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước thể hiện bị cáo là người có nhân thân tốt. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2021. Có mặt. - Người bào chữa cho bị cáo: ông Nguyễn Đức Đoàn- Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Yên Bái. Có mặt. - Người phiên dịch: ông Lý A Dà, sinh năm 1988; nghề nghiệp: Cán bộ Tòa án: trú tại: bản Háng Bla Ha, xã Khao Mang, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 25/6/2021, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Công an xã Nậm Có, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái tiến hành kiểm tra tại nơi ở của Sùng Thị M. Phát hiện thấy lực lượng Công an, một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch bỏ chạy ra khỏi nhà Sùng Thị M, Công an xã truy đuổi nhưng không giữ được, còn M vứt xuống đất nền nhà gần vị trí đứng vật gì đó. Tổ công tác yêu cầu M nhặt lên, M đã tự nhặt lên và giao nộp 04 gói nilon màu hồng đều được hàn kín một đầu, bên trong mỗi gói đều có chứa chất bột nén màu trắng. Sau đó tổ công tác yêu cầu M có đồ vật gì liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật tự giác giao nộp. Sùng Thị M lấy trên giường trong buồng ngủ ra giao nộp 01 gói nilon màu xanh buộc túm một đầu bằng sợi chỉ màu xanh bên trong có chứa 11 gói nilon màu hồng đều được hàn kín một đầu, bên trong mỗi gói đều có chứa chất bột nén màu trắng; 01 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy bên trong có chứa 05 gói nilon màu hồng đều được hàn kín một đầu bên trong mỗi gói đều có chứa chất bột nén màu trắng và khai nhận chất bột màu trắng có trong các gói đã giao nộp trên là Heroine của bản thân, cất giấu với mục đích để bán kiếm lời, đang định bán cho người đàn ông vừa bỏ chạy ra ngoài; kiểm tra người Sùng Thị M phát hiện, thu giữ 01 ví vải mầu đen, tiền có chữ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 840.000,đồng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Sùng Thị M và niêm phong vật chứng theo quy định. Cùng ngày, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Mù Cang Chải đã ra Lệnh và tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật đối với Sùng Thị M, không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Tại bản Kết luận giám định số 378/GĐMT ngày 03/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận: - Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang của Sùng Thị M có tổng khối lượng là: 1,16 gam; 0,31 gam trích từ 1,16 gam chất bột nén mầu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine. Tại bản Kết luận giám định số 379/KLGĐ ngày 01/7/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận: Số tiền 840.000 đồng là tiền do Ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Sùng Thị M khai nhận: Khoảng 14 giờ ngày 25/6/2021, trong quá trình đi làm ruộng, Sùng Thị M gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết một lượng Heroine với giá 800.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, M cất giấu vào trong áo mặc trên người mang về nhà. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi chỉ có một mình ở nhà, M lấy số Heroine đã mua được ra, dùng móng tay bấm và chia thành 20 phần nhỏ, rồi gói mỗi phần vào mảnh nilon màu hồng và hơ lửa tại bếp đun củi của gia đình để hàn kín một đầu lại thành từng gói riêng (thường gọi là “tép”). Chia và gói xong, M cho 09 gói vào chiếc lọ nhựa màu trắng có nắp đậy, cho 11 gói vào 01 mảnh nilon màu xanh buộc túm một đầu rồi cất giấu tất cả tại giường ngủ của gia đình với mục đích bán kiếm lời. Cáo trạng số: 29/CT- VKS- MCC ngày 07 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải truy tố Sùng Thị M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đã phân tích, đánh giá hành vi của bị cáo trong quá trình thực hiện tội phạm và giữ nguyên quan điểm đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Sùng Thị M từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy; 02 vỏ phong bì, giấy gói, các mảnh nilon gói; 01 lọ nhựa màu trắng; trả lại cho bị cáo 840.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và 01 ví vải màu đen đã qua sử dụng. Người bào chữa trình bày lời bào chữa nhất trí với tội danh và điều khoản truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo là phụ nữ dân tộc thiểu số, không biết chữ, chưa có tiền án, tiền sự; nhận thức pháp luật còn hạn chế; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo; tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cân nhắc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo với mức án thấp nhất của khung hình phạt về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Do bị cáo thuộc hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật. Bị cáo không có ý kiến bổ sung. Khi được nói lời sau cùng, đề nghị được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Cơ quan điều tra Công an huyện Mù Cang Chải, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải, Kiểm sát viên; trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các thành viên của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thủ tục tố tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. [2] Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng, phù hợp với kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 25/6/2021 Sùng Thị M đã mua 1,16 gam Heroine với giá 800.000 đồng mục đích để bán kiếm lời. Hành vi đó của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. [3] Với tính chất mức, độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc “Mua bán trái phép chất ma túy” là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm quy định của Nhà nước về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma tuý, mà còn làm gia tăng tệ nạn nghiện ma tuý, là nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh các loại tội phạm khác trên địa bàn, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật. [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, được Hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt. [5] Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời cũng đảm bảo răn đe, phòng ngừa chung. Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, không có khả năng, điều kiện thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. [6] Các vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người bán và người đến mua ma túy của Sùng Thị M: Quá trình điều tra bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể và đặc điểm nhận dạng của những người này. Do đó cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác minh, làm rõ đề xuất xử lý. [7] Về vật chứng và tài sản liên quan đến vụ án: - Số ma túy còn lại được niêm phong trong 01 phong bì niêm phong do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành. Mặt trước phong bì có ghi: Vật chứng thu giữ của Sùng Thị M, sinh năm 1970, tại bản Tu San, xã Nậm Có, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái, ngày 25/6/2021 (sau khi giám định) là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu huỷ. - Vật chứng là: 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong, giấy gói, nilon gói, lọ nhựa màu trắng, sợi chỉ màu xanh. Không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. - số tiền 840.000 đồng và 01 ví vải màu đen, tình trạng đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của bị cáo cần trả lại cho bị cáo. [8] Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Sùng Thị M phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý " 1. Về hình phạt: - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Sùng Thị M 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 26/6/2021. 2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. - Tịch thu tiêu huỷ: Số Heroine còn lại 0,85 gam. Được niêm phong lại vào một phong bì do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành. Mặt trước phong bì có ghi: "Vật chứng nghi là ma túy thu giữ khi bắt quả tang Sùng Thị M - SN: 1970 tại bản Tu San, xã Nậm Có, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái ngày 25-6-2021" (Sau khi giám định). Mặt sau phong bì các mép được dán kín, có chữ ký họ tên của Hà Văn Lưu, Đoàn Xuân Trường, Hà Hải Đà, Nguyễn Đức Đoàn và 04 hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái tại các mép dán; 02 (hai) vỏ phong bì đã mở niêm phong, giấy gói, nilon gói, lọ nhựa màu trắng, sợi chỉ màu xanh.. - Trả lại cho bị cáo 840.000 đồng (Tám trăm bốn mươi nghìn) tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam và 01 (một) ví vải màu đen, tình trạng đã qua sử dụng. 3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, Bị cáo Sùng Thị M được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm. 4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: - TAND tỉnh YB; - VKSND huyện MCC; - VKSND tỉnh Yên Bái; - Công an huyện MCC (2 bản); - Chi cục THADS huyện MCC; - Sở Tư pháp; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Công an trại tạm giam; - Lưu T.H.A phạt tù, hồ sơ. Tòng Văn Quân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) |