vanban.org

Bản án 42/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 21/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Hữu Th Nguyễn Viết Đ - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG BÚK
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2021/HS-ST
Ngày: 21-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Thái Văn Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Y Mưng Niê.

2. Ông Vũ Công Đạt.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk tham gia phiên toà: Ông Đinh Quang Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2021/HS-ST, ngày 01 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2021/ QĐXXST–HS, ngày 07 tháng 12 năm 2021 đối với các bị cáo:

01/ Họ và tên: Võ Hữu Th, sinh ngày 01/01/1972, tại Tp Đ; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn E, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Võ Hữu S, sinh năm 1933 và bà Trương Thị S, sinh năm 1940. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1973 và 03 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2007. Tiền án, tiền sự: không.

Bị tạm giữ từ ngày 03/7/2021 đến ngày 06/7/2021, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại Thôn E, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Bị cáo có mặt.

02/ Họ và tên: Nguyễn Viết Đ, sinh ngày 14/01/ 1985, tại tỉnh H; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn E, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Làm nông. Con ông: Nguyễn Viết Th, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1952. Bị cáo có vợ là Hoàng Thị H và 03 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: không.

Bị tạm giữ từ ngày 03/7/2021 đến ngày 06/7/2021, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại Thôn E, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Bị cáo có mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Khắc L, sinh năm 1964.

Địa chỉ: Thôn E, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 23 phút ngày 02/7/2021, Võ Hữu Th biết trận đấu bóng đá Châu Âu vòng loại chung kết Euro năm 2020, giữa đội bóng Thụy Sỹ và đội Tây Ban Nha sắp diễn ra vào lúc 23 giờ 00 ngày 02/7/2021, nên Th dùng điện thoại thông di động nhãn hiệu ViVO, số sim thuê bao 0983.576.522 truy cập vào mạng internet để xem tỉ lệ kèo cá cược bóng đá, sau đó Th gửi tỉ lệ kèo cá cược bóng đá cho Đ với nội dung “Kèo mới nhé...Tây bnha.075 ăn 8 Tai 25a9...h1...025..a8.tai 1 thua 9”.

Sau khi xem tin nhắn của Th gửi thì Đ đồng ý cá cược bóng đá được thua bằng tiền với Th, sau đó Đ dùng điện thoại di động nh n hiệu NOKIA 105, số sim thuê bao 0822.794.976 nhắn tin cá cược bóng đá cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào lúc 22 giờ 23 phút cùng ngày, Đ nhắn tin cho Th “Tai 2C”, tức là Đ đặt cược tài, trận đấu giữa đội Tây Ban Nha và đội Thụy Sỹ với số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Nếu trận đấu giữa đội Tây Ban Nha và đội Thụy Sỹ có tổng bàn thắng được ghi lớn hơn hoặc bằng 3 bàn thắng thì Th sẽ chung cho Đương số tiền 1.800.000 đồng (một triệu tám trăm nghìn đồng). Nếu trận đấu giữa đội Tây Ban Nha và đội Thụy Sỹ có tổng bàn thắng được ghi nhỏ hơn 03 bàn thắng thì Đ phải chung cho Thọ số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).

Lần thứ hai: Vào lúc 22 giờ 25 phút cùng ngày, Đ nhắn tin cho Th “Keo duoi 2C”, tức là Đ đặt cược kèo dưới vào đội Thụy Sỹ với số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Nếu đội Thụy Sỹ thắng hoặc hoà đội Tây Ban Nha thì Th sẽ chung cho Đ số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), nếu đội Thụ Sỹ thua với tỉ số cách biệt 02 bàn thắng thì Đ sẽ chung cho Th số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), còn nếu đội Thụy Sỹ thua đội Tây Ban Nha với tỷ số cách biệt 01 bản thắng, thì Đ sẽ chung cho Th số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng).

Lần thứ ba: Vào lúc 22 giờ 55 phút cùng ngày, Đ nhắn tin cho Th “Keo duoi 5C”, tức là Đ đặt cược kèo dưới vào đội Thụy Sỹ số tiến 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Nếu đội Thụy Sỹ thắng hoặc hoà đội Tây Ban Nha, thì Th sẽ chung cho Đ số tiền 5.000.000 đồng, nếu đội Thụy Sỹ thua với cách biệt 02 bàn thắng thì Đ sẽ chung cho Th số tiền 5.000.000 đồng, còn nếu đội Thụy Sỹ thua đội Tây Ban Nha với tỷ số 01 bàn thắng thì Đ sẽ chung cho Th số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Sau khi đọc tin nhắn của Đ gửi các lần cá cược bóng đá và số tiền cá cược thì Th nhắn tin lại cho Đ với nội dung “Ok”, tức là Th đồng ý nhận cá cược bóng đá được thua bằng tiền với Đ và chấp nhận số tiền Đ cá độ bóng đá 9.000.000 đồng (chín triệu đồng). Trong lúc Th và Đ chờ trận đấu bóng đá giữa đội Thụy Sỹ và đội Tây Ban Nha diễn ra, đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Búk bắt quả tang và thu giữ của Võ Hữu Th 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVO, số sim thuê bao 0983.576.522 chứa tin nhắn có nội dung cá độ bóng đá. Đối với Nguyễn Viết Đ đến ngày 03/7/2021 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Búk đầu thú và đ khai nhận hành vi phạm tội đánh bạc cùng với Th.

Số tiền bị can Đ dùng đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng được thua bằng tiền là 9.000.000 đồng (chín triệu đồng) và số tiền Th dùng đánh bạc 9.000.000 đồng (chín triệu đồng).

Đồ vật, tài liệu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Búk, thu giữ của bị cáo Võ Hữu Th 01 điện thoại di động nh n hiệu V VO, màu xanh đen, bên trong có chứa 01 sim điện thoại di động số thuê bao 0983.576.522, ME 1: 862310059264556, IMEI 2: 862310059264549; thu giữ của bị can Nguyễn Viết Đ 01 điện thoại di động nh n hiệu NOK 105, màu đen; có chứa 02 sim điện thoại có số thuê bao sim 01: 0972794976; Sim 02: 0822794976, IMEI 1: 352428905798358, ME 2: 352428907798356. Đây là các điện thoại của các bị cáo Võ Hữu Th và Nguyễn Viết Đ sử dụng vào việc phạm tội.

Vào ngày 07/11/2021, các bị cáo Võ Hữu Th và Nguyễn Viết Đ đ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, tự nguyện giao nộp số tiền đ sử dụng vào mục đích đánh bạc mỗi bị cáo 9.000.000 đồng (chín triệu đồng).

Tại bản Cáo trạng số 48/CT-VKS ngày 26 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk đ truy tố các bị cáo: Võ Hữu Th và Nguyễn Viết Đ, về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phân tích, chứng minh các chứng cứ buộc tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo và đ giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như bản Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo: Võ Hữu Th và Nguyễn Viết Đ phạm tội “Đánh bạc”;

Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 và Điều 50 Bộ luật hình sự, xử phạt: Võ Hữu Th, từ 30 triệu đồng đến 35 triệu đồng.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 321 điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Viết Đ, từ 25 triệu đến 30 triệu đồng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử: Tịch thu sung ngân sách nhà nước của bị cáo Võ Hữu Th 01 điện thoại di động nh n hiệu V VO, màu xanh đen, bên trong có chứa 01 sim điện thoại di động số thuê bao 0983.576.522, IMEI 1: 862310059264556, IMEI 2: 862310059264549; của bị cáo Nguyễn Viết Đ 01 điện thoại di động nh n hiệu NOK 105, màu đen; có chứa 02 sim điện thoại có số thuê bao sim 01: 0972794976; Sim 02: 0822794976, IMEI 1: 352428905798358, IMEI 2: 352428907798356; tịch thu sung ngân sách nhà nước của bị cáo Th 9.000.000 đồng (chín triệu đồng), của bị cáo Đ 9.000.000 đồng (chín triệu đồng), đây là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì thêm mà xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phàn hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Búk, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định Điều 172 Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đ thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt quả tang của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Búk, cũng như lời khai của người làm chứng.

Như vậy, đ có đủ cơ sở kết luận: Vì ý thức coi thường pháp luật và động cơ tư lợi cá nhân, nên khoảng 20 giờ 23 phút ngày 02/7/2021, tại nhà của Võ Hữu Th ở thôn E, xã C, huyện K, tỉnh Đắk, các bị cáo Võ Hữu Th và Nguyễn Viết Đ đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá được thua bằng tiền, trong giải bóng đá Châu Âu vòng chung kết Euro năm 2020, giữa hai đội Tây Ban Nha và Thụy Sỹ diễn ra vào lúc 23 giờ cùng ngày. Bị cáo Đ đặt cược với bị cáo Th 03 lần, tổng số tiền 9.000.000 đồng (chín triệu đồng), bị cáo nhận cá cược bị cáo Đ tổng số tiền 9.000.000 đồng (chín triệu đồng), trong lúc các bị cáo Th và Đ chờ trận đấu bóng đá diễn ra thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Búk bắt quả tang và thu giữ của bị cáo Võ Hữu Th 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVO, số sim thuê bao 0983.576.522.

Hành vi của các bị cáo Võ Hữu Th và Nguyễn Viết Đ đ phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 bộ luật hình sự.

Tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 50.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội ở địa phương, các bị cáo đều có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng với bản tính ham mê bài bạc nên các bị cáo đánh bạc sát phạt nhau được thua bằng tiền. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội để đưa ra mức hình phạt tương xứng cho mỗi bị cáo nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

Xét thấy đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Th là người khởi xướng, bị cáo Đ là người thực hành tích cực cụ thể, sau khi truy cập vào mạng internet để xem tỉ lệ kèo cá cược bóng đá giữa đội tuyển Thụy Sỹ và Tây Ban Nha xong thì Th chủ động nhắn tin cho Đ để hai người cùng cá độ bóng đá được thua bằng tiền, tổng số tiền mà 03 lần trong cùng một trận đấu.

. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Võ Hữu Th và Nguyễn Viết Đ trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Th và Đ được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, riêng đối với bị cáo Đ sau khi phạm tội, đến ngày 03/7/2021 đ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Búk để đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy bị cáo Đ được thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Võ Hữu Th và Nguyễn Viết Đ không có tình tiết tăng nặng.

Xét thấy các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà cần áp dụng hình phạt tiền quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo cũng đảm bảo điều kiện cải tạo giáo dục các bị cáo, tạo điều kiện cho các bị cáo hòa nhập với cộng đồng, tự giác cải tạo để trở thành công dân có ích cho xã hội.

Xét mức đề nghị về hình phạt của Đại diện viện kiểm sát đối với các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:

Tịch thu sung ngân sách nhà nước của bị cáo Võ Hữu Th 01 điện thoại di động nh n hiệu V VO, màu xanh đen, bên trong có chứa 01 sim điện thoại di động số thuê bao 0983.576.522, ME 1: 862310059264556, ME 2: 862310059264549; của bị cáo Nguyễn Viết Đ 01 điện thoại di động nh n hiệu NOK 105, màu đen; có chứa 02 sim điện thoại có số thuê bao sim 01: 0972794976; Sim 02: 0822794976, IMEI 1: 352428905798358, IMEI 2: 352428907798356; tịch thu sung ngân sách nhà nước của bị cáo Th 9.000.000 đồng (chín triệu đồng), của bị cáo Đ 9.000.000 đồng (chín triệu đồng), đây là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

(Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/12/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Búk và Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Búk và giấy Ủy nhiệm chi ngày 15/12/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Búk và Kho bạc nhà nước huyện Krông Búk).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Võ Hữu Th và Nguyễn Viết Đ mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên,

QUYEÁT ÑÒNH

Tuyên bố: Bò cáo Võ Hữu Th và Nguyễn Viết Đ phạm toäi “Đánh bạc”.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 50 Bộ luật hình sự, xử phạt: Võ Hữu Th, 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).

Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 50 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Viết Đ, 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:

Tịch thu sung ngân sách nhà nước của bị cáo Võ Hữu Th 01 điện thoại di động nh n hiệu V VO, màu xanh đen, bên trong có chứa 01 sim điện thoại di động số thuê bao 0983.576.522, ME 1: 862310059264556, ME 2: 862310059264549; của bị cáo Nguyễn Viết Đ 01 điện thoại di động nh n hiệu NOK 105, màu đen; có chứa 02 sim điện thoại có số thuê bao sim 01: 0972794976; Sim 02: 0822794976, IMEI 1: 352428905798358, IMEI 2: 352428907798356; tịch thu sung ngân sách nhà nước của bị cáo Th 9.000.000 đồng (chín triệu đồng), của bị cáo Đ 9.000.000 đồng (chín triệu đồng), đây là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

(Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/12/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Búk và Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Búk và giấy Ủy nhiệm chi ngày 15/12/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Búk và Kho bạc nhà nước huyện Krông Búk).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Buộc các bị cáo Võ Hữu Th và Nguyễn Viết Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm;

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nôi nhaän:

Cỡ chữ