vanban.org

Bản án 42/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 23/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Về vật chứng vụ án: Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 449.000đ (Bốn trăm bốn mươi chín nghìn đồng) đựng trong một phong bì niêm phong theo quy định, mặt trước p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
HUYỆN HÒA AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH CAO BẰNG
Bản án số: 42/2021/HSST
Ngày 23/11/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA AN, TỈNH CAO BẰNG

Với thành phần tiến hành xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lục Thanh Hải.

Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Tân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Nguyễn Huyên - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số: 45/2021/TLST-HS, ngày 09 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2021/QĐXXST-HS, ngày 18 tháng 11 năm 2021 đối với:

- Bị cáo Nguyễn Thị T, tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 28 tháng 8 năm 1963 tại Hòa An, Cao Bằng;

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: xóm BL, xã HT, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 09/10; Con ông Nguyễn Khánh N, sinh năm 1929 (đã chết), con bà Đặng Thị M, sinh năm 1933 (đã chết); Chồng: Nguyễn Văn Y, sinh năm 1956 (đã chết); Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1985, con nhỏ sinh năm 1987; Anh, chị, em ruột: Bị cáo có sáu anh, chị, em ruột, bị cáo là con thứ tư trong gia đình;

Tiền án: 02: Ngày 28/12/2018 bị Toà án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng xử phạt 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”; Ngày 13/8/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”;

Tiền sự: Không có;

Về nhân thân: Ngày 14/8/1995 có hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy bị Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 02 năm tù giam; Ngày 24/5/2017 có hành vi đánh bạc, bị Công an huyện Hòa An, Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền; Ngày 13/6/2018 có hành vi đánh bạc bị Công an huyện Hòa An, Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến ngày 26/11/2021 theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân huyện Hòa An.

Bị cáo hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Mông Thị T, sinh năm 1964.

Địa chỉ: xóm BL, xã HT, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng;

2. Hoàng Thị Ph (tên gọi khác: Ph), sinh năm 1968.

Địa chỉ: xóm BL, xã HT, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng;

3. Vi Thị T, sinh năm 1971.

Địa chỉ: xóm BL, xã HT, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng;

(Tất cả những người làm chứng đều có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 06/10/2021, Nguyễn Thị T, sinh năm 1963; Mông Thị T, sinh năm 1964; Hoàng Thị P, sinh năm 1968, tất cả các đối tượng trên đều cùng trú tại xã HT, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng đến tại nhà bà Vi Thị T, sinh năm 1971 ở xóm BL, HT, Hòa An, Cao Bằng chơi. Tất cả cùng nói chuyện với nhau được khoảng 15 phút thì bà Vi Thị T lấy bộ tú lơ khơ 52 lá bài để ở trên tủ gần bàn uống nước ra để cùng ba người còn lại đánh bạc với hình thức chơi “Phỏm ù”. Tỷ lệ đặt ăn thua tối đa là 5000đồng/người/ván. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày thì bị Công an xã HT, huyện Hòa An lập biên bản bắt quả tang, thu giữ một bộ tú lơ khơ và số tiền của những người chơi, cụ thể: 83.000 đồng của Nguyễn Thị T, 300.000 đồng của Mông Thị Thọ, 50.000 đồng của Vi Thị T và 16.000 đồng của Hoàng Thị P. Sau đó Công an xã HT làm thủ tục chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan điều tra Công an huyện Hòa An để điều tra theo thẩm quyền.

Kết quả tra cứu tiền án, tiền sự của các đối tượng tham gia đánh bạc cho thấy: 03 đối tượng Mông Thị T, Vi Thị T, Hoàng Thị P đều chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc. Đối với Nguyễn Thị T có 02 tiền án về tội đánh bạc, cụ thể: Ngày 28/12/2018 bị Toà án nhân dân huyện Hòa An xử phạt 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”; Ngày 13/8/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Hòa An xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”;

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 46/QĐ-VKSHA ngày 08/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà An, Cao Bằng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo thừa nhận đã có hành vi phạm tội đúng như nội dung Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Bị cáo thừa nhận việc truy tố bị cáo là đúng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

Những người làm chứng Vi Thị T, Mông Thị T, Hoàng Thị P đều thừa nhận được cùng bị cáo Nguyễn Thị T tham gia vụ đánh bạc ngày 06/10/2021 với hình thức đánh “Phỏm ù”, sau đó bị Công an xã HT bắt quả tang. Với hành vi này, những người làm chứng đã bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật và đề nghị Tòa án:

Về tội danh: tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù .

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bộ tú lơ khơ 52 lá bài đã qua sử dụng; Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 449.000đ (Bốn trăm bốn mươi chín nghìn đồng).

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

Tại phần tranh luận, bị cáo có ý kiến tranh luận là lời luận tội với mức án đề nghị của Kiểm sát viên là quá nặng so với hành vi phạm tội của bị cáo vì bị cáo chỉ đánh bài vui chơi với số tiền không lớn.

Kiểm sát viên đối đáp với bị cáo: Theo quy định của pháp luật và nhân thân thì không có căn cứ đề nghị mức hình phạt từ mức khởi điểm mà cần phải đề nghị trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Do vậy, Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt như vậy là phù hợp với quy định của pháp luật. Sau khi nghe đối đáp, bị cáo không có ý kiến gì thêm

Tại lời nói sau cùng bị cáo có đề nghị Tòa án cân nhắc, xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Cơ quan điều tra, Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi của bị cáo đã thực hiện, tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc của mình; lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an xã HT, huyện Hòa An lập hồi 14 giờ 00 phút ngày 06/10/2021, phù hợp lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, qua đó đã xác định được: Bị cáo Nguyễn Thị T đã có hai tiền án về tội đánh bạc nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc vào ngày 06/10/2021 cùng với các đối tượng Mông Thị T, Vi Thị T, Hoàng Thị P với mức ăn thua là 5000 đồng/người/ván. Tổng số tiền thu được trên chiếu bạc là 449.000 đồng.

Điều 321 Bộ luật Hình sư quy định về “Tội đánh bạc”:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2…”

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và nếp sống văn minh xã hội, gây ảnh hưởng đến kinh tế của gia đình. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào cũng bị pháp luật cấm nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi với lỗi cố ý, bản thân bị cáo đã có hai tiền án về tội đánh bạc nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà bị cáo vẫn bất chấp thực hiện hành vi phạm tội nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Như vậy, nội dung Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng đã truy tố là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt: Bị cáo có nhân thân xấu (đã bị kết án 01 lần về hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chấy ma túy và 02 tiền sự về hành vi đánh bạc; những lần vi phạm pháp luật này đều đã được xóa án tích); Nhưng bị cáo có 02 tiền án về tội đánh bạc chưa được xóa, bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội. Trong vụ án này số tiền thu được trên chiếu bạc mà bị cáo tham gia chỉ có 449.000 đồng tuy nhiên bị cáo có hai tiền án về tội đánh bạc, đây là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự do đó không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo có bố đẻ là Nguyễn Khánh N được nhà nước tặng thưởng Huân, huy chương, do đó bị cáo được hưởng Tm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy cần phải xử phạt nghiêm minh với hành vi phạm tội của bị cáo nên khi xem xét mức hình phạt cần cách ly bị cáo với xã hội một thời gian là cần thiết để nhằm giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung đối với xã hội. Do đó, mức đề nghị hình phạt của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Ngoài hình phạt chính, tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự còn quy định hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với người phạm tội danh này. Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về việc xử lý vật chứng:

- Đối 01 (một) bộ tú lơ khơ gồm 52 lá bài cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với số tiền 449.000 đồng thu được của bị cáo và những người khác ở trên chiếu bạc đây là số tiền dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung Ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Các Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/NQ-UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố:

1. Về tội danh: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Về vật chứng vụ án: Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 449.000đ (Bốn trăm bốn mươi chín nghìn đồng) đựng trong một phong bì niêm phong theo quy định, mặt trước phong bì ghi “Tổng số tiền 449.000đ, vụ Nguyễn Thị T, tội đánh bạc, xảy ra ngày 06/10/2021 tại BL, HT, Hòa An, Cao Bằng”;

Tịch thu, tiêu hủy một bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài đã qua sử dụng.

(Vật chứng hiện nay đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa An theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 04 ngày 09/11/2021).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ