- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2021/HS-ST Ngày: 26/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Trọng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Như Long và Ông Phạm Hồng Chương.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mai Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức – Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 11 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 20/2021/TLST-HS ngày 07/6/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2021/QĐXXST-HS ngày 15/6/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2021/ HSST-QĐ, ngày 28 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T; sinh ngày 01/7/1974 tại xã TH, huyện CT, tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú: Ấp 1, xã TH, huyện CT, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị B (đã chết); vợ: Nguyễn Thị Hạnh D, sinh năm: 1973 (đã ly hôn); con: Có 2 người, lớn sinh năm: 1993, nhỏ sinh năm: 2002; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” từ ngày 13/4/2021 đến 13/7/2021; có mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại: Anh Phạm Xuân Đ; sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn QT, xã TBT, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Đặng Thị T; sinh năm: 1953; nơi cư trú: Thôn QC, xã TBT, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
2. Chị Phạm Thị Kim A; sinh năm: 1985; nơi cư trú: Phường NH, thành phố HT, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
3. Anh Lê Nhật P; sinh năm: 2001; nơi cư trú: Thôn 11, xã NC, huyện ĐR, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Phụ xe; vắng mặt.
4. Chị Nguyễn Thị Mười H; sinh năm: 1976; nơi cư trú: Ấp 1, xã TH, huyện CT, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Lê Tiến B; sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn QC, xã TBT, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
2. Anh Phạm Xuân C; sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn QC, xã TBT, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ ngày 19/02/2021, Nguyễn Văn T (Có giấy phép lái xe hạng FC do Sở giao thông vận tải tỉnh Tiền Giang cấp ngày 10/9/2020) điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 63C-047.85 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 63R-000.78 đi trên đường Quốc lộ 8A theo hướng Hồng Lĩnh - Hương Sơn, trên xe có Lê Nhật P là phụ xe. Khi đi đến địa phận thôn QC, xã TBT, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Văn T đỗ xe sát lề bên phải Quốc lộ 8A để ăn sáng. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn xong, Nguyễn Văn T lên xe nổ máy, rồi điều khiển xe di chuyển ra làn đường dành cho ô tô để tiếp tục đi lên cửa khẩu Cầu Treo, huyện Hương Sơn. Lúc này, ông Phạm Xuân C đang điều khiển xe đạp đi song song cùng chiều thì Nguyễn Văn T điều khiển xe di chuyển, đồng thời đánh lái để chuyển hướng sang làn đường bên trái theo chiều hướng đi. Do không chú ý quan sát phương tiện lưu thông cùng chiều phía sau và chuyển làn xe không đảm bảo an toàn nên dãy bánh sau cùng bên trái của rơ moóc đâm trúng bánh sau xe đạp của ông Phạm Xuân C, làm ông C ngã xuống đường và bị bánh sau cùng, bên trái của rơ moóc biển kiểm soát 63R-000.78 cán qua người. Hậu quả ông C tử vong tại hiện trường.
Tại bản kết luận giám định số 64/GĐPY ngày 20/02/2021 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh, kết luận: Ông Phạm Xuân C tử vong do chấn thương sọ não.
Bản Cáo trạng số 21/CT- VKS-ĐT ngày 31 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo Điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 260, Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và người đại diện gia đình bị hại đã thỏa thuận bồi thường tổng số tiền 120.000.000 đồng; nay bị cáo và người đại diện gia đình bị hại không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
Đối với 01 chiếc xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CAMC, biển kiểm soát 63C-047.15; 01 chiếc xe rơ móoc hiệu KCT, biển kiểm soát 63R-000.78 của chị Nguyễn Thị Mười H, khi xảy ra tai nạn không hư hỏng gì, chị Nguyễn Thị Mười H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về biện pháp tư pháp: 01 chiếc xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CAMC, biển kiểm soát 63C-047.15; 01 chiếc xe rơ móoc hiệu KCT, biển kiểm soát 63R-000.78; 01 Giấy phép lái xe hạng FC, số 820975000072, mang tên Nguyễn Văn T, do Sở giao thông vận tải tỉnh Tiền Giang cấp ngày 10/9/2020; 01 chiếc xe đạp màu ghi đã trả lại cho các chủ sở hữu nên miễn xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, xin giảm nhẹ hình phạt và không có khiếu nại gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điểu tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa vắng mặt tất cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng nhưng xét thấy họ đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ và việc vắng mặt của họ không làm cản trở việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định xét xử vụ án.
Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng pháp luật. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo có tại hồ sơ vụ án, lời khai của người đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, biên bản khám nghiệm tử thi và các tài liệu, chứng cứ có tài hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 19/02/2021, tại Km4+780 đường Quốc lộ 8A thuộc địa phận thôn QC, xã TBT, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Văn T điều khiển xe đầu kéo biển kiểm soát 63C-047.15 kéo theo rơ móoc biển kiểm soát 63R-000.78 do không chú ý quan sát các phương tiện lưu thông cùng chiều phía sau, chuyển làn xe không đảm bảo an toàn nên đã đâm vào bánh sau xe đạp của ông Phạm Xuân C đang đi song song cùng chiều, làm ông C tử vong. Bị cáo đủ tuổi, đủ năng lực trách nhiệm hình sự và tai nạn xẩy ra lỗi hoàn toàn do bị cáo. Vì vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đều thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại; người đại diện gia đình bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về căn cứ quyết định hình phạt: Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; bị cáo đã được học và được cấp giấy phép lái xe hạng FC nhưng không chấp hành các quy định về tham gia giao thông đường bộ dẫn đến phạm tội nên cần xử bị cáo mức án tương xứng để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Tuy nhiên, bị cáo phạm lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Do đó, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, người đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Về biện pháp tư pháp: 01 chiếc xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CAMC, biển kiểm soát 63C-047.15; 01 chiếc xe rơ móoc hiệu KCT, biển kiểm soát 63R-000.78; 01 chiếc xe đạp màu ghi; 01 Giấy phép lái xe hạng FC, số 820975000072, mang tên Nguyễn Văn T đã trả lại cho các chủ sở hữu là đúng pháp luật.
Về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Bị cáo, người đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 260, Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/11/2021.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã TH, huyện CT, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện thủ tục theo quy định của pháp luật về Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 2 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Căn cứ Khoản 1, 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 3, Điều 6, Khoản 1 Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/11/2021). Người đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở Tư pháp Hà Tĩnh; - VKSND Đức Thọ; - CQĐT Công an Đức Thọ; - Chi cục THADS Đức Thọ; - THA hình sự; - Bị cáo; - Đại diện người bị hại; - Người có QL&NV liên quan; - Lưu hồ sơ; Văn thư; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Huy Trọng |