vanban.org

Bản án 42/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 22/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 25.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia 230 màu đen xám; 01 máy tính điện tử nhãn hiệu casio. Tịch thu tiêu hủy 39 tờ vé xổ số kiến thiết Tiền Giang (đã xổ số). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo nguyễn Văn N phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 25.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK R’LẤP
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2021/HS - ST
Ngày 22-7-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thành

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thùy và ông Nguyễn Như Tạ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hoà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2021, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2021/TLST – HS ngày 15 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2021/QĐXXST – HS ngày 08 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N, sinh năm 1965 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Tổ dân phố 6, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Bán vé số; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị L (đều đã chết); bị cáo có vợ là Trần Thị H, sinh năm 1965, hiện trú tại: Tổ dân phố 6, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1991; con nhỏ nhất sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giam từ ngày 03 - 01 -2021 đến ngày 08-01-2021, được áp dụng biện pháp ngặn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1962; địa chỉ: Tổ dân phố 1, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; bà Trần Thị H; sinh năm 1965; địa chỉ: Tổ dân phố 6, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Anh Hồ Văn T, sinh năm 1988; địa chỉ: T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi

Người làm chứng: Anh Trương Văn M, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn 04, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; chị Lương Ngọc Thùy C, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn 06, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông

(tất cả đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn N là người bán vé số, nhưng nếu có ai mua số đề, cá cược được thua bằng tiền trái phép thì Ng sẽ bán cho họ. Khi có người đến mua số đề thì Nghĩa ghi vào tờ vé số đã xổ rồi đưa cho người mua, sau đó sao chép những số đề này vào tờ lịch vạn niên rồi cất giấu tại nhà (gọi là phơi đề). Cách thức ghi số đề và cách tính thắng thua mà Ng và người mua số đề quy ước như sau: Căn cứ vào kết quả xổ số của các đài miền Trung và miền Nam (được tính từ tỉnh Thừa Thiên Huế trở vào, mở thưởng hồi 16 giờ 15 phút và 17 giờ 15 phút hằng ngày) có các giải từ giải đặc biệt đến giải tám, có nhiều dãy số khác nhau giảm dần. Giải đặc biệt có 06 con số, đến giải tám có 02 con số. Người mua lựa chọn những con số bất kỳ, so sánh với kết quả xổ số để tính thắng thua với nhau:

Thứ nhất là “đánh đầu cuối”: Là người mua 02 số của giải tám và 02 số cuối của giải đặc biệt (được ký hiệu trong phơi đề là “. 2 .” gọi là đánh đầu, cuối hoặc “Đ” là đánh số đầu, “C” là đánh số cuối). Khi so với kết quả nếu trúng thì tỉ lệ được thua là 1 được 70 lần (nghĩa là 1.000 đồng được 70.000 đồng);

Thứ hai là “Đánh bao lô” (có ký hiệu trong phơi đề là dấu “x”), người đánh số đề có thể mua 02 số cuối gọi là “hai chân” hoặc 03 số cuối (gọi là “ba chân”) hoặc mua nhiều số cuối “hai chân” hoặc “ba chân” rồi so sánh với hai hoặc ba số cuối của tất cả các giải, các con số đã mua được tích theo số điểm, 01 điểm tương đương với số tiền 14.000 đồng hoặc 15.000 đồng, nếu trúng số đề thì 01 điểm người mua được 70.000 đồng, không trúng thì chủ số đề được số tiền tương đương với số điểm.

Vào khoảng 15 giờ ngày 03-01-202, Lương Ngọc Thùy C và Trương Văn M đến nhà của Nguyễn Văn N để mua số đề của đài Tiền Giang. Trong đó M mua các số 75 là 200 điểm, số 40 là 47 điểm, tổng cộng 247 điểm x 15.000 đồng, thành tiền 3.705.000 đồng, C mua số 40 là 100 điểm x 15.000 đồng, thành tiền là 1.500.000 đồng. Sau đó N vào phòng ngủ của gia đình mình sao chép các con số mà M và C vừa mua ghi vào tờ vé số đài Tiền Giang với nội dung “TG 75 x 200; 40 x 47; 40 x 100” (gọi là phơi đề) đưa cho Mỹ rồi lấy số tiền 3.700.000 đồng (N bớt cho Mỹ 5.000 đồng) của M và 1.500.000 đồng của C. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, N đang sao chép các con số đề của M và C mua vào tờ lịch vạn niên, còn M và C ra về thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp bắt quả tang cùng tang vật.

Ngoài ra trong ngày 03-01-2021 một số đối tượng (không xác định được nhân thân, lai lịch) đến nhà của N mua số đề gồm: Đài Tiền Giang các số: “586 x5; 324 x 5.2.20 (nghĩa là số 324 được mua 05 điểm, đánh đầu 10.000 đồng, đánh cuối 10.000 đồng); 24 x5; 86, 87 x 5; 72 x 10; 15, 16 x10; 467, 67, 87 x 5. Đài Kiên Giang các số: “586, 86, 87 x5; 56, 81 x 5 Đ 25 (nghĩa là đánh số 56, 81 mỗi số 05 điểm, đánh đầu mỗi số 25.000 đồng) và đài Đà Lạt các số: “586, 27, 86, 87 x5”; tổng số tiền là 1.580.000 đồng.

Như vậy, số tiền mà Nguyễn Văn N đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức mua bán số đề là: 6.780.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 37/Ctr-VKS ngày 03 tháng 6 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp quyết định truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Đăk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông để xét xử bị cáo Nguyễn Văn N về tội:“Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N từ 20.000.000đ đến 30.000.000đ nộp ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 6.780.000 đồng là vật chứng vụ án do phạm tội mà có; tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia 230 màu đen xám; 01 máy tính điện tử nhãn hiệu casio là phương tiện dùng vào việc phạm tội; tịch thu tiêu hủy 39 tờ vé xổ số kiến thiết Tiền Giang (đã xổ số) là vật chứng vụ án.

Đối với 03 tờ vé số của đài Tiền Giang (đã xổ số) thu giữ của Trương Văn M và 01 tờ lịch vạn niên thu giữ của Nguyễn Văn N hiện đang được chuyển theo hồ sơ, làm tài liệu giải quyết vụ án nên không đề cập xử lý.

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn N không có ý kiến và bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Đăk R’Lấp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’Lấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn N khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã công bố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng thời gian từ 15 giờ đến 15 giờ 30 phút, ngày 03-01-2021, tại nhà của Nguyễn Văn N ở tổ dân phố 6, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Nguyễn Văn N có hành vi bán số đề trái phép, được thua bằng tiền cho Lương Ngọc Thùy C và Trương Văn M với số tiền 5.200.000 đồng. Ngoài ra trong ngày 03-01-2021, Nguyễn Văn Ng còn bán số đề cho một số đối tượng khác (không xác định được nhân thân, lai lịch) với số tiền 1.580.000 đồng. Tổng số tiền bán số đề được thua bằng tiền là 6.780.000 đồng. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn N đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

. Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo gây ra là ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến trật tự công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do vậy, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo gây ra có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội cũng như phòng ngừa chung trong toàn xã hội

. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên bị cáo có nơi ở rõ ràng và có công việc với thu nhập thường xuyên, ổn định. HDXX xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần áp dụng hình phạt tiền là đủ răn đe bị cáo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng và nhân đạo của Pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 6.780.000 đồng là vật chứng vụ án do phạm tội mà có; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia 230 màu đen xám; 01 máy tính điện tử nhãn hiệu casio là phương tiện dùng vào việc phạm tội; Tịch thu tiêu hủy 39 tờ vé xổ số kiến thiết Tiền Giang (đã xổ số) là vật chứng vụ án. Đối với 03 tờ vé số của đài Tiền Giang (đã xổ số) thu giữ của Trương Văn M và 01 tờ lịch vạn niên thu giữ của Nguyễn Văn N là tài liê ̣u kèm theo vu ̣ án, cần tiếp tu ̣c lưu giữ trong hồ sơ.

. Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt là có căn cứ, HĐXX sẽ xét xét khi quyết định hình phạt.

. Đối với Trương Văn M dùng số tiền 3.700.000 đồng để đánh bạc, Lương Ngọc Thùy C dùng số tiền 1.500.000 đồng để đánh bạc với Nguyễn Văn N. Quá trình điều tra xác định M và C chưa có tiền án, tiền sự về tội Đánh bạc và tội Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên Công an huyện Đ quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trương Văn M và Lương Ngọc Thùy C về hành vi Đánh bạc là đúng quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn N khai nhận: Sau khi những người mua số đề thì N bán lại cho bà H (có tên thật là Đỗ Thị H, sinh năm 1962, trú tại tổ dân phố 1, thị trấn K, huyện Đ) trực tiếp tính được thua với người mua số đề, còn N được hưởng tiền hoa hồng. Quá trình xác minh không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh hành vi của Đỗ Thị H nên không có cơ sở để xử lý. Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’lấp đang tiếp tục xác minh, khi nào có căn cứ sẽ tiến hành xử lý sau. Ngoài ra quá trình điều tra xác định Nguyễn Văn N còn hai lần bán số đề cho Trương Văn M. Trong đó lần thứ nhất vào ngày 23/12/2020, đài Đồng Nai với số tiền 150.000 đồng, lần thứ hai vào ngày 29/12/2020, đài Bình Dương với số tiền 900.000 đồng. Căn cứ vào kết quả xổ số của đài Đồng Nai và đài Bình Dương vào những ngày trên thì Trương Văn M không trúng số đề. Do đó số tiền mà Trương Văn M và Nguyễn Văn N đánh bạc vào các lần trên không cấu thành tội phạm, nên không đề cập xử lý.

. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Đánh bạc”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng), nộp ngân sách Nhà nước. 2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 6.780.000 đồng.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia 230 màu đen xám; 01 máy tính điện tử nhãn hiệu casio.

Tịch thu tiêu hủy 39 tờ vé xổ số kiến thiết Tiền Giang (đã xổ số).

(Có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Chi cục Thi hành án huyện Đắk R’Lấp và Công an huyện Đắk R’Lấp ngày 07 tháng 6 năm 2021).

Tiếp tục lưu giữ 03 tờ vé số của đài Tiền Giang (đã xổ số) theo hồ sơ vụ án

(Có đặc điểm như biên bản thu giữ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk R’lấp). 3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; ngườ i có quyền lợi, nghia vu ̣̃

liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền và nghia vu ̣̃

của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Đắk Nông;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh Đắk Nông;

- Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;

- Phòng HSNVCS CA tỉnh Đắk Nông;

- VKSND huyện Đắk R’lấp;

- CA huyện Đắk R’lấp;

- THADS huyện Đắk R’lấp;

- Bị cáo;

- NCQLNVLQ;

Đỗ Văn Thành

- Lưu: HS,VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CÁC THÀNH VIÊN

T.P CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ