- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2021/HS-ST Ngày: 26 - 7 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG - TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Lệ và bà Vũ Thị Lan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Cao Nguyên – Thư ký TAND huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Dung – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2021/TLST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:
LƯƠNG VĂN T - Sinh năm 1994.
Nơi sinh: Xã CB, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: Bản XC, xã CB, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12.
Con ông Lương Văn Ng (đã chết) và bà Lương Thị S, sinh năm 1972.
Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai.
Có vợ là chị Lò Thị H, sinh năm 1998; Bị cáo có 01 con sinh năm 2014.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Tạm giữ: Từ ngày 12/6/2021 đến ngày 18/6/2021.
Tạm giam: Từ ngày 18/6/2021 đến nay tại Trại tạm giam – Công an tỉnh Hải Dương.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Lương Văn T:
+ Ông Phạm Văn Điều – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước – Sở tư pháp tỉnh Hải Dương.
Người bào chữa có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Ông Phạm Văn Ph – Sinh năm 1965.
Địa chỉ: Khu H, thị trấn KS, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 12/6/2021, Lương Văn T điều khiển xe mô BKS 37G1-100.48 đi từ xã Cẩm Phúc, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương đến bờ sông Sặt thuộc khu Hạ, thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang tìm mua ma túy để sử dụng. Đến nơi, Tuấn gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 02 gói ma túy Heroine với giá 200.000đ. Sau khi mua được số ma túy trên, Tuấn cất giấu 01 gói ma túy trong túi quần bên phải phía trước và cầm trong tay phải 01 gói ma túy rồi điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 08 giờ 40 phút cùng ngày, Tuấn đi đến khu vực ngõ Ứng Hòa thuộc khu Hạ, thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Giang bắt quả tang, thu giữ trên người Tuấn 02 gói bọc giấy tráng kim loại màu trắng kích thước (0,5 x 1) cm bên trong đều chứa chất bột màu trắng. Tuấn khai là ma túy Heroine mua về để sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 319/KLGĐ-PC09 ngày 14/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng ghi thu của Lương Văn T gửi đến giám định có tổng khối lượng 0,190g là ma túy loại Heroine. Hoàn lại đối tượng sau giám định là 0,136g ma túy Heroine và 02 mảnh giấy bạc. Heroine nằm trong danh mục I, STT 9, Nghị định 73 ngày 15/5/2018 của Chính Phủ.
Vật chứng của vụ án gồm: 0,136g ma túy Heroine là mẫu vật hoàn lại sau giám định, hiện Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Giang đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Giang để quản lý trong giai đoạn xét xử.
Đối với xe mô tô BKS 37G1-100.48, ngày 02/7/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Giang xác định chị Lò Thị Hiền (vợ bị cáo Tuấn) là chủ sở hữu do vậy đã tiến hành trao trả chiếc xe cho chị Lò Thị Hiền.
Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 13/7/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Lương Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lương Văn T thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình và xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là có căn cứ.
Người bào chữa cho bị cáo Lương Văn T tại phiên tòa xác định hành vi của bị cáo Tuấn đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo tội danh và điều luật như Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố là đúng tuy nhiên đề nghị HĐXX căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ không lớn, chỉ hơn mức khởi điểm một lượng nhỏ và hoàn cảnh của bị cáo cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất từ 12 tháng đến 13 tháng tù để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cải tạo thành công dân tốt. Ngoài ra người bào chữa đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày quan điểm giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả, điều kiện, nguyên nhân phạm tội, nhân thân của bị cáo. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lương Văn T từ 13 đến 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12/6/2021.
Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,136g Heroine cùng 02 mảnh giấy bạc là mẫu vật hoàn lại sau giám định.
Về án phí: Bị cáo Lương Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang; Điều tra viên; Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố; điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo Lương Văn T:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của chính bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người làm chứng; phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Từ những chứng cứ nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận:
Vào hồi 08 giờ 40 phút ngày 12/6/2021, tại khu vực ngõ Ứng Hòa, thuộc khu Hạ, thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, Lương Văn T có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,190g ma túy loại Heroine với mục đích sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Giang phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật và gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo tàng trữ 0,190g ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng nên đã đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Tuấn là người nghiện chất ma túy, nhận thức được tác hại của việc sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn tàng trữ nhằm mục đích sử dụng do vậy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản và không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định là 0,136g Heroine là vật nhà nước cấm lưu hành và 02 mảnh giấy bạc là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Đối với xe mô tô BKS 37G1-100.48 đăng ký xe mang tên Lương Văn T là tài sản của Tuấn và chị Lò Thị Hiền. Quá trình điều tra làm rõ bị cáo chỉ sử dụng chiếc xe để đi lại, không sử dụng vào việc cất giấu ma túy. Ngày 02/7/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Giang đã trả lại chiếc xe nêu trên cho chị Lò Thị Hiền (là vợ bị cáo Tuấn) là phù hợp do vậy không đặt ra xem xét, giải quyết xử lý.
Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Tuấn, quá trình điều tra không xác định được là ai, ở đâu nên không có căn cứ để xử lý. Đối với chị Lò Thị Hiền không biết Tuấn sử dụng chiếc xe mô tô BKS 37G1-100.48 đi mua ma túy nên không có căn cứ xử lý trách nhiệm.
Về án phí: Căn cứ theo Quyết định số 433/QĐ-UBDT ngày 18/6/2021 của Ủy ban dân tộc, kể từ ngày 18/6/2021 nơi bị cáo cư trú không còn thuộc diện thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2025 do đó bị cáo không thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự sơ thẩm được quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lương Văn T 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12/6/2021.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 0,136g ma túy loại Heroine và 02 mảnh giấy bạc được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định ghi số 319/KLGĐ-PC09.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Bình Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang ngày 19/7/2021).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Lương Văn T phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người bào chữa; - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương; - Cơ quan CSĐT - Công an huyện Bình Giang; - Cơ quan THAHS - CA tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam – Công an tỉnh Hải Dương; - Chi cục THADS huyện Bình Giang; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Hải |