vanban.org

Bản án 42/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Sau khi ly hôn, giao con chung tên là Nguyễn Thị Phương T sinh ngày 05/9/2012 cho bà Đồng Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông Nguyễn Phúc D được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp có đơn yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN
—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2021/HNGĐ-ST
Ngày 27-9-2021
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lương Tấn Nghị.

Ông Lê Văn Tuyển

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T tỉnh Phú Yên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 130/2021/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2021 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đồng Thị V, sinh năm 1992.

Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện T, Phú Yên. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Phúc D, sinh năm 1987.

Nơi cư trú: Thôn Thôn L, xã H, huyện T, Phú Yên

Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Đồng Thị V và ông Nguyễn Phúc D tìm hiểu, tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên vào ngày 12/12/2011. Theo nguyên đơn trình bày: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì bắt đầu xảy ra nhiều mâu thuẫn, đến tháng 12/2020, bà V cắt đứt quan hệ vợ chồng với ông D, chuyển về ở nhà mẹ đẻ cho đến nay. Nguyên nhân do ông D thường xuyên ăn nhậu, không lo làm ăn, có lần còn đánh đuổi bà V. Hiện bà V không còn tình cảm, không thể chung sống có hạnh phúc được nữa nên yêu cầu giải quyết cho ly hôn; về con chung: Có 01 người con chung tên là Nguyễn Thị Phương T sinh ngày 05/9/2012 hiện đang sống cùng bà V. Sau khi ly hôn, bà V yêu cầu trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con; bà V không yêu cầu giải quyết về tài sản chung.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bà Đồng Thị V nộp đơn khởi kiện ngày 24/3/2021, yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn ông Nguyễn Phúc D có nơi cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện T tỉnh Phú Yên có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với vụ án. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về yêu cầu ly hôn: Xét tại thời điểm đăng ký kết hôn, bà V và ông D có đầy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Bà V yêu cầu ly hôn vì không còn tình cảm vợ chồng, không thể chung sống với nhau được nữa, hiện cả hai không còn chung sống, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng được trưởng thôn xác nhận đúng sự thật. Do đó có căn cứ xác định tình trạng mâu thuẫn vợ chồng của bà V và ông D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà V.

Về con chung: Bà V và ông D có 01 con chung là Nguyễn Thị Phương T sinh ngày 05/9/2012 hiện đang sống cùng bà V. Bà V yêu cầu trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Xét yêu cầu này là có căn cứ và cũng để đảm bảo lợi ích về mọi mặt của con, Tòa án giao con cho bà V tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Bà V không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con.

Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản chung.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Đồng Thị V được ly hôn ông Nguyễn Phúc D.

Sau khi ly hôn, giao con chung tên là Nguyễn Thị Phương T sinh ngày 05/9/2012 cho bà Đồng Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Ông Nguyễn Phúc D được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp có đơn yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26; mục A danh mục án phí lệ phí Tòa án được ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Bà Đồng Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ sơ thẩm, được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0002377 ngày 24/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Phú Yên.

Nguyên đơn được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ