- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Ngọc H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Các bị cáo Đinh Ngọc H, Trịnh Xuân H1 và Nguyễn Huyền Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2020/HSST Ngày: 01/10/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà
Thẩm phán: Ông Ong Thân Th4.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Tuyết Trinh- Cán bộ hội phụ nữ tỉnh B;
2. Ông Nguyễn Xuân Chuyển- Cán bộ hưu;
3. Ông Ngô Văn Bê- Cán bộ hưu.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh B.
Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh B tham gia phiên tòa: Ông Vũ Anh T-Kiểm sát viên trung cấp.
Trong các ngày 30/ 9 và 01/10/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2020/TLST-HS ngày 27/8/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2020/QĐXXST-HS ngày 03/9/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32 ngày 15/9/2020 đối với các bị cáo:
1- Họ và tên: Đinh Ngọc H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1976 tại huyện Tân Y, tỉnh B; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Nơi ĐKNKTT: Thị trấn Nhã N, huyện Tân Y, tỉnh B; Nơi ở: Phố Lao Động, Thị trấn Nhã N, huyện Tân Y, tỉnh B; Con ông: Đinh Văn L1, sinh năm 1950; Con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1952; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị H5, sinh năm 1985 (đã ly hôn); Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2006;
- Nhân thân:
+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 99 ngày 25/9/2009 của Công an huyện Tân Y, tỉnh B xử phạt Đinh Ngọc H 750.000 đồng về hành vi "Cố ý làm hư hỏng tài sản",bị cáo H đã thi hành xong vào ngày 21/10/2009;
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 14 ngày 12/4/2012 của Tòa án nhân dân huyện Tân Y, tỉnh B xử phạt Đinh Ngọc H 18 tháng tù nhưng cho bị cáo H án treo, thời gian thử thách 31 tháng 14 ngày về tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản".
+ Ngày 06/02/2017 Đinh Ngọc H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Bình, tỉnh Thái Ng khởi tố về tội "Cố ý gây thương tích" sau đó được đình chỉ điều tra do người bị hại rút đơn yêu cầu. Ngày 24/11/2017, Công an huyện Phú Bình, tỉnh Thái Ng đã có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 92611, xử phạt Đinh Ngọc H 2.500.000 đồng về hành vi "Cố ý gây thương tích",bị cáo H đã thi hành xong vào ngày 07/12/2017.
+ Ngày 09/01/2020, Đinh Ngọc H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Y, tỉnh B khởi tố về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ", vụ án đang trong giai đoạn điều tra.
Tiền sự, tiền án: Không
- Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/8/2019, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt).
2. Họ và tên: Trịnh Xuân H1; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1996 tại xã Phúc S, huyện Tân Y, tỉnh B; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Nơi ĐKNKTT và nơi ở: Thôn Lữ Vân, xã Phúc S, huyện Tân Y, tỉnh B; Con ông: Trịnh Văn T, sinh năm 1973; Con bà: Doãn Thị S, sinh năm 1978; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có;
-Tiền sự, tiền án: Không;
- Bị cáo bị bắt, giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2019, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).
3. Họ và tên: Nguyễn Huyền Tr; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 19/3/2003 tại xã Phúc Ư, huyện Sơn D, tỉnh Tuyên Q; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Nơi ĐKNKTT và nơi ở: Thôn Phúc Hòa, xã Phúc Ư, huyện Sơn D, tỉnh Tuyên Q; Con ông: Nguyễn Văn M1, sinh năm 1981; con bà: Hoàng Thị Â , sinh năm 1974; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất; Chồng, con: Chưa có; Tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo đầu thú ngày 04/10/2019, hiện tại ngoại (có mặt).
+ Người bào chữa cho bị cáo Đinh Ngọc H: Luật sư Giáp Văn Điệp- Công ty Luật Fanci - Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
+ Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Huyền Tr:
- Luật sư Ong Thị Thanh, Văn phòng luật sư Vũ Anh Hùng -Đoàn luật sư tỉnh B. (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 120 đường Hùng Vương, phường Hoàng Văn Thụ, Thành phố B, tỉnh B.
- Ông Thân Văn Lợi, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (có mặt).
+ Đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Huyền Tr:
Bà: Hoàng Thị Â ; sinh năm: 1974 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn Phúc Hòa, xã Phúc Ư, huyện Sơn D, tỉnh Tuyên Q.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :
1. Anh Nguyễn Văn C; sinh năm: 1988 (vắng mặt). Địa chỉ: Thôn Long Vân, xã Phúc S, huyện Tân Y, tỉnh B.
2. Anh Đinh Ngọc Th; sinh năm:1984 (có mặt). Địa chỉ: Phố Lao Động, Thị trấn Nhã N, huyện Tân Y, tỉnh B.
3. Bà Nguyễn Thị L; sinh năm: 1952 (có mặt). Địa chỉ: Số 124 Phố Lao Động, Thị trấn Nhã N, huyện Tân Y, tỉnh B.
4. Anh Phạm Ngọc Th1; sinh năm: 1981 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khu 3, thị trấn K, huyện Lạng G, tỉnh B.
Hiện đang tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh B. (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
5. Ông Phan Thanh S; sinh năm: 1962 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Mai Hoàng, xã Phúc S, huyện Tân Y, tỉnh B.
6. Anh Lê Văn H2; sinh năm: 1981 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Tổng Cút, xã Bắc Th, huyện Chi L, tỉnh Lạng S.
*Người làm chứng :
1. Anh Trần Văn Th2, sinh năm: 1975 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số nhà 27, đường Trần Nguyên Hãn, phường Trần Nguyên H, thành phố B, tỉnh B. (vắng mặt).
2. Ông Trịnh Văn Đ, sinh năm:1947 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Lữ Vân, xã Phúc S, huyện Tân Y, tỉnh B.
3. Anh Nguyễn Bá Th3, sinh năm: 1987. (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Quất Tỉnh, xã Quất Đ, huyện Thường T, thành phố H.
4. Anh Phan Văn H3, sinh năm: 1962 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Hoàng Mai, xã Phúc S, huyện Tân Y, tỉnh B.
5. Anh Nguyễn Ngọc H4, sinh năm:1995 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Đài Sơn, xã Phúc S, huyện Tân Y, tỉnh B.
6. Chị Trần Thị Thúy Ng, sinh năm: 1997 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ 8, phường Tân L, thành phố Thái Ng, tỉnh Thái Ng.
7. Bà Ngô Thị D, sinh năm:1950 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn Lữ Vân, xã Phúc S, huyện Tân Y, tỉnh B.
8. Ông Nguyễn Tiến L2; sinh năm: 1964 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Hoàng Mai, xã Phúc S, huyện Tân Y, tỉnh B.
9. Chị Nguyễn Thị Q; sinh năm: 1980 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Đồng Am, xã Lam C, huyện Tân Y, tỉnh B.
10. Anh Trịnh Văn T, sinh năm: 1973 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Lữ Vân, xã Phúc S, huyện Tân Y, tỉnh B.
11. Bà Doãn Thị S, sinh năm: 1978 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn Yên Lý, xã Phúc S, huyện Tân Y, tỉnh B.
12. Anh Nguyễn Minh Đ1, sinh năm:1994 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Mai Hoàng, xã Phúc S, huyện Tân Y, tỉnh B.
13. Ông Đinh Duy L3, sinh năm: 1962 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Đầu Cầu, xã Yên M, huyện Lạng G, tỉnh B.
14. Anh Ngô Quang A, sinh năm: 1978 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ Nam Giang, phường Xương G, thành phố B, tỉnh B (người chứng kiến).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Đinh Ngọc H
Hồi 15 giờ 45 phút ngày 29/8/2019, tại khu vực sân khu nhà trọ của ông Lưu Hồng Tân, sinh năm 1948 ở thôn Đầu Cầu, xã Yên M, huyện Lạng G, tỉnh B, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B bắt quả tang Đinh Ngọc H, sinh năm 1976, trú tại phố Lao Động, Thị trấn Nhã N, huyện Tân Y, tỉnh B đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 túi nilon mầu đỏ, trong có 01 hộp kim loại hình hộp chữ nhật có nắp đậy, trên mặt có mầu đỏ vàng và nhiều chữ nước ngoài, trong đựng:
+ 01 túi nilon mầu trắng được hàn kín hai đầu, trong có 01 gói giấy mầu trắng được quấn dây chun nịt mầu đỏ, trên một mặt của gói giấy có chữ “A” mầu xanh, bên trong gói giấy có 08 túi nilon mầu xanh, trên một đầu của mỗi túi đều có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ, bên trong mỗi túi đều đựng các viên nén hình tròn mầu hồng đỏ và mầu xanh, trên một mặt của mỗi viên đều có ký hiệu “WY” nghi là ma túy tổng hợp; 02 túi nilon mầu hồng, một đầu có rãnh khóa nhựa, trên mặt của mỗi túi có chữ “A”, bên trong cả hai túi đều đựng các viên nén hình tròn mầu hồng đỏ và mầu xanh, trên một mặt của mỗi viên đều có ký hiệu “WY” nghi là ma túy tổng hợp.
+ 01 găng tay nilon mầu trắng, trong có 02 túi nilon mầu hồng, một đầu của mỗi túi đều có rãnh khóa nhựa, trên một mặt của mỗi túi đều có chữ “A”, trong 02 túi đều đựng các viên nén hình tròn mầu hồng đỏ và mầu xanh, trên một mặt của mỗi viên nén đều có chữ “WY” nghi là ma túy tổng hợp; 02 túi nilon mầu xanh, một đầu của mỗi túi đều có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ, bên trong 02 đều đựng các viên nén hình tròn mầu hồng đỏ và mầu xanh, trên một mặt của mỗi viên nén đều có chữ “WY” nghi ma túy tổng hợp.
+ 02 túi nilon mầu trắng, một đầu của mỗi túi đều có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ, bên trong hai túi đều đựng chất tinh thể mầu trắng nghi là túy tổng hợp.
+ 05 túi nilon mầu xanh, một đầu của mỗi túi đều có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ, bên trong cả năm túi đều đựng các viên nén hình tròn mầu hồng đỏ và mầu xanh, trên một mặt của mỗi viên nén đều có chữ “WY” nghi là ma túy tổng hợp.
+ 01 túi nilon mầu hồng một đầu có rãnh khóa nhựa trên một mặt của túi có chữ “A”, bên trong túi đựng các viên nén hình tròn mầu hồng đỏ và mầu xanh, trên một mặt của mỗi viên nén đều có chữ “WY” nghi ma túy tổng hợp.
- 01 túi nilon, loại túi đựng giấy ướt bên ngoài mầu trắng và có nhiều chữ, một mặt của túi có nắp đậy bằng nhựa, bên trong túi có 01 túi nilon mầu đỏ, bên trong túi nilon mầu đỏ đựng 01 túi nilon mầu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ, bên trong túi đựng chất cục bột mầu trắng nghi là ma túy Heroine.
- 01 hộp giấy, loại hộp đựng bánh kẹo, mặt ngoài có chữ “ORION” và nhiều mầu sắc, bên trong hộp có 01 túi nilon mầu hồng mặt ngoài có in nhiều chữ mầu đen, bên trong có 01 khối hình hộp chữ nhật, ngoài cùng là lớp nilon mầu trắng, trên một mặt của khối có dán miếng băng dính mầu xanh. Tổ công tác tiến hành bóc miếng băng dính mầu xanh để hở vết cắt hình chữ “V”, mở vết cắt thấy có các lớp nilon và giấy nến, trong cùng là chất cục bột mầu trắng nghi là ma túy Heroine.
Toàn bộ số vật chứng nêu trên đã được niêm phong trong 01 hộp bìa cát tông có ký hiệu “QT1”.
- 01 khẩu súng bằng kim loại mầu xám, kiểu súng côn quay, có ốp tay cầm bằng nhựa mầu xám, bên trong hộp tiếp đạn có 06 viên đạn hình trụ tròn mầu vàng đồng (đã niêm phong trong 01 phong bì mầu trắng ký hiệu “QT3”).
Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra xe ôtô nhãn hiệu BMW biển kiểm soát 51F- 584.92 củabị cáo H, thu giữ tại cốp để đồ giữa ghế lái và ghế phụ xe ô tô có 01 túi nilon mầu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa và viền mầu xanh, bên trong túi đựng chất cục bột mầu trắng nghi là ma túy Heroine (đã niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu “QT2”). Ngoài ra, còn thu giữ của bị cáo H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung; 01 xe ô tô BKS 51F- 584.92, trong xe có: 01 ví da màu đen có khóa kéo trong ví có 7.090.000 đồng, 01 túi nilon giả da một đầu có khuy bấm, có chữ “VNI” trong có 01 giấy đăng ký xe ôtô, 01 giấy chứng nhận kiểm định, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe ôtô, 01 chứng minh nhân dân mang tên Trần Thị Phượng và 04 điện thoại di động (BL74-85).
Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đinh Ngọc H tại phòng 204 Nhà nghỉ Thanh Sơn ở thôn Mai Hoàng, xã Phúc S, huyện Tân Y, tỉnh B, thu giữ:
- 01 túi nilon mầu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ, trong đựng 14 viên nén hình tròn mầu hồng đỏ, trên một mặt của mỗi viên đều có ký hiệu “WY” nghi là ma túy tổng hợp; 01 lọ nhựa mầu đỏ, bên ngoài có chữ nhiều mầu, bên trong có 01 túi nilon mầu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ, trong đựng chất tinh thể mầu trắng nghi là ma túy tổng hợp; 01 túi nilon mầu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, một mặt của túi có chữ mầu đỏ, bên trong túi đựng chất tinh thể mầu trắng nghi là ma túy tổng hợp (đã được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu “KX1”).
- Thu trong ngăn tủ nhựa trong phòng: 01 túi ni lon màu trắng, một đầu rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ, trong có 29 đoạn kim loại, một đầu có gắn chì, nghi là đạn súng (đã được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu "KX2").
- 01 chứng minh nhân dân và 01 hộ cH5 đều mang tên Phạm Thị Bé H5, 37.100.000 đồng, 01 két sắt có chữ "Công ty thiết bị vật tư ngân hàng ACB". Ngày 30/8/2019, Cơ quan điều tra tiến hành chobị cáo H tự mở két, thu giữ bên trong két số tiền 225.500.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 1409 ngày 05/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận:
- Trong 01 hộp cát tông có ký hiệu "QT1" đã được niêm phong gửi giám định: 472,8 gam ma túy Methamphetamine và 462,5 gam ma túy Heroine.
- Trong 01 phong bì có ký hiệu "QT2" đã được niêm phong gửi giám định: 0,241 gam ma túy Heroine.
- Trong 01 phong bì có ký hiệu "KX1" đã được niêm phong gửi giám định: 10,8 gam ma túy Methamphetamine. (BL109-112).
Kết luận giám định số 1445 ngày 09/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận: Khẩu súng gửi giám định là súng ổ xoay, không pHải vũ khí quân dụng, 35 viên đạn gửi giám định là đạn thể thao cỡ (5,6 x 15,5) mm, không pHải là đạn quân dụng (BL117).
Quá trình điều tra, Đinh Ngọc H khai: Cách ngày bị bắt khoảng 01 tháng,bị cáo H gặp và quen Phạm Ngọc Th1, sinh năm 1981, trú tại khu 3, thị trấn K, huyện Lạng G, tỉnh B và hai người cho nhau số điện thoại để liên lạc. Cách ngày bị bắt khoảng 3-4 ngày,bị cáo H nhận được điện thoại của Th1 hỏi mua 01 bánh ma túy Heroine , 20 túi ma túy hồng phiến và nửa lạng ma túy đá.bị cáo H đồng ý và thỏa bị cáo Th1 giá 225 triệu đồng 01 bánh ma túy Heroine, 08 triệu đồng 01 túi ma túy hồng phiến và 16 triệu đồng nửa lạng ma túy đá. Sau đó,bị cáo H điện thoại cho Tuấn nhà ở phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn là người bị cáo H quen biết từ trước hỏi mua số ma túy trên. Tuấn đồng ý và thỏa bị cáo Th1 giá 215 triệu đồng 01 bánh ma túy Heroine, 7,5 triệu đồng 01 túi ma túy hồng phiến và 14 triệu đồng nửa lạng ma túy đá. Đêm ngày 28/8/2019, Tuấn đã đem số ma túy trên đến gần nhà nghỉ Thanh Sơn ở thôn Mai Hoàng, xã Phúc S, huyện Tân Y, tỉnh B giao chobị cáo H,bị cáo H đã trả 375 triệu đồng cho Tuấn. Nhận ma túy xong,bị cáo H điện thoại thông báo cho Bị cáo Th1 biết và hẹn chiều ngày 29/8/2019 sẽ giao hàng cho bị cáo Th1 ở nhà trọ của Bị cáo Th1 ở thôn Đầu Cầu, xã Yên M, huyện Lạng G. Buổi chiều ngày 29/8/2019,bị cáo H đi xe ôtô nhãn hiệu BMW biển kiểm soát 51F-584.92 đến đến nhà trọ của Bị cáo Th1. Khi đến nơi,bị cáo H cầm túi nilon màu đỏ bên trong đựng số ma túy Bị cáo Th1 đặt mua trên tay trái và tay phải Hải cầm khẩu súng côn xuống xe rồi đi vào phòng trọ để gặp Bị cáo Th1 giao ma túy. Khibị cáo H đi đến sân nhà trọ thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B bắt quả tang.
Từ ngày 03/9/2019 đến nay, Đinh Ngọc H thay đổi lời khai và khai: Nguồn gốc số ma túy bị cáo H bán cho Bị cáo Th1 là do bị cáo H mua của vợ chồng Hoàng Quyết Th4, sinh năm 1979, trú tại số nhà 67, đường Huyền Quang, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố B, tỉnh B là Đội trưởng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Tân Y, tỉnh B. Khoảng giữa năm 2019,bị cáo H gặp và quen Th4 tại một quán karaoke ở thị trấn Cao Thượng, huyện Tân Y và hai người cho nhau số điện thoại để liên lạc. Quá trình quen biết, Th4 biếtbị cáo H có sử dụng ma túy nên đặt vấn đề nhờ bị cáo H giúp bắt giữ một số đối tượng phạm tội ma túy ở địa bàn huyện Tân Y. Khoảng tháng 7/2019, Th4 điện thoại chobị cáo H nói có nguồn ma túy tiêu hủy bán chobị cáo H,bị cáo H đồng ý mua, hai bên thỏa bị cáo Th1 giá 195 triệu đồng 01 bánh ma túy Heroine, 7,5 triệu đồng 01 túi ma túy hồng phiến (mỗi túi 200 viên), 28 triệu đồng 01 lạng ma túy đá. Sau đó,bị cáo H đã 05 lần mua ma túy của Th4, cụ thể:
- Lần 1: Khoảng cuối tháng 7/2019, Th4 mang 08 túi ma túy hồng phiến đến phòng 204 nhà nghỉ Thanh Sơn ở thôn Mai Hoàng, xã Phúc S, huyện Tân Y, tỉnh B bán chobị cáo H với giá 7,5 triệu đồng 01 túi.
- Lần 2: Sau lần thứ nhất khoảng 5-7 ngày, Th4 mang 07 túi ma túy hồng phiến đến khu vực bờ đê sông máng gần nhà nghỉ Thanh Sơn bán chobị cáo H với giá 7,5 triệu đồng 01 túi.
- Lần 3: Sau lần thứ 2 khoảng 5-7 ngày, Th4 đi cùng vợ là Đặng Thị L3 mang 04 túi ma túy hồng phiến và 100 gam ma túy đá đến khu vực bờ đê sông máng gần nhà nghỉ Thanh Sơn bán chobị cáo H với giá 28 triệu đồng.
- Lần 4: Sau lần thứ 3 khoảng 7 ngày, Th4 mang 03 túi ma túy hồng phiến và 02 cây ma túy Heroine đến phòng 105 nhà nghỉ Thanh Sơn bán cho bị cáo H với giá 7,5 triệu đồng 01 túi ma túy hồng phiến, còn 02 cây Heroinebị cáo H chưa trả tiền cho Th4.
- Lần 5: Cách ngày bị bắt khoảng 3-4 ngày,bị cáo H nhận được điện thoại của Bị cáo Th1 hỏi mua 01 bánh ma túy Heroine và 20 túi ma túy hồng phiến, bị cáo H nói hiện chỉ có ma túy hồng phiến và nửa lạng ma túy đá, còn ma túy Heroine đểbị cáo H hỏi và sẽ thông báo lại cho Bị cáo Th1 sau. Sau đó,bị cáo H điện thoại cho Th4 nói có khách mua 01 bánh ma túy Heroine thì Th4 trả lời một hai hôm nữa mới có. Đêm ngày 28 rạng sáng ngày 29/8/2019, Th4 cùng vợ là Đặng Thị L3mang 01 bánh ma túy Heroine đến phòng 204 nhà nghỉ Thanh Sơn bán chobị cáo H với giá 215 triệu đồng, vợ chồng Th4 mua lại củabị cáo H 20 gam ma túy đá với giá 06 triệu đồng.bị cáo H đã lấy ra một ít ma túy từ bánh ma túy Heroine vừa mua được của Th4 cho vào 01 túi nilon rồi cất giấu vào cốp để đồ giữa ghế lái và ghế phụ trong xe ôtô BKS 51F-584.92 với mục đích cho người mua ma túy xem trước.
Toàn bộ số ma túy mua được của Th4 trong 05 lần nêu trên,bị cáo H mang về phòng 204 nhà nghỉ Thanh Sơn, lấy ra một phần đóng gói lại mục đích để sử dụng và bán. Ngày 29/8/2019,bị cáo H mang 01 bánh ma túy Heroine, 20 túi ma túy hồng phiến, 02 túi ma túy đá, 01 túi ma túy Heroine đến bán cho Bị cáo Th1 nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang và thu giữ. Số ma túy còn lại để ở trong phòng 204 nhà nghỉ Thanh Sơn thì bị Cơ quan điều tra khám xét thu giữ.
Chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung bị thu giữ,bị cáo H khai, trước ngày bị bắt khoảng 5 ngày,bị cáo H mua của một người tên là Tuấn (thường gọi là Tuấn Tuyên) nhà ở xã Tân Đức, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Ng. Sau đó, bị cáo H đã lắp 02 sim số 0869981555 và số 0971599560 để liên lạc với Th4 và Bị cáo Th1.bị cáo H lưu 02 số điện thoại của Th4 với tên là “Thang lan” có 03 số cuối là 750 và "Em Thang lan" có 3 số cuối là 166,bị cáo H không lưu tên mà chỉ lưu số điện thoại của L3có 03 số cuối là 007,bị cáo H lưu số điện thoại của Bị cáo Th1 là “Thuan Em Kép”. Cơ quan điều tra đã kiểm tra chiếc điện thoại trên, xác định được trong danh bạ điện thoại có lưu số điện thoại 0358716750 với tên là "Thang Lan"; số điện thoại 0346929137 và số điện thoại 0983828166 lưu tên là "Em Thang Lan". Số điện thoại tên "Thang Lan" gọi đến chobị cáo H lúc 20 giờ 49 phút ngày 27/8/2019 và lúc 23 giờ 00 phút ngày 28/8/2019. Điện thoại có lưu 86 tập tin (file) ghi âm cuộc gọi và 08 file ghi âm khác, trong đó 02 file ghi âm cuộc gọi với số điện thoại lưu là “Thang Lan- 0358716750 ngày 26/8/2019 và ngày 27/8/2019, 03 file ngày 28/8/2019, 01 file ngày 29/8/2019; số điện thoại “0866167007” file ngày 25/8/2019 và ngày 29/8/2019 (không có nội dung trao đổi gì); 02 file ghi âm cuộc gọi với số điện thoại lưu là "Thuan Em Kép" ngày 29/8/2019.bị cáo H khai những file ghi âm với số điện thoại lưu tên "Thang Lan" và "Bị cáo Th1 Em Kép" là các file ghi âm nội dung trao đổi mua bán ma túy với vợ chồng Hoàng Quyết Th4 và Phạm Ngọc Th1. Cụ thể:
- File ghi âm 0866167007 ngày 25/8/2019 là hội thoại có nội dung: L3nói vớibị cáo H tối mai có hai (Hải hiểu là 02 bánh Heroine) thì anh có lấy hết được không.bị cáo H trả lời một thì là chắc chắn, còn hai đểbị cáo H hỏi đã.bị cáo H hỏi L3là hai thì bớt giá được bao nhiêu. L3 trả lời vẫn như thế, không bớt được.
- Thang lan- 0358716750 ngày 26/8/2019 là hội thoại có nội dung: Th4 thông báo tối nay chương trình có hai miếng (Hải hiểu là 02 bánh Heroine), Th4 hỏi chương trình thế nào, có lấy được cả hai không.bị cáo H trả lời một miếng thì chắc chắn rồi, hai miếng thì để xem tiền nong thế nào đã. Th4 nói thế thì cứ bảo nó lấy trước một miếng, sợ nó dồn dập quá đến thứ 5 lại có hàng tiếp, sợ có chậm ngày của nó không.bị cáo H nói để sắp xếp tiền lấy cả hai miếng, Th4 nói lấy cả hai xong thứ 5 lại có tiếp. Th4 nói OK (đồng ý) có gì 10 giờ về thì Th4 điện chobị cáo H.
- Thang lan- 0358716750 ngày 27/8/2019 là hội thoại có nội dung: Th4 nói vớibị cáo H là bảo các anh ý về đi, tối mai mới có hàng, Th4 đang chờ để lấy hàng. Th4 nói “nó” (Hải hiểu là người bán hàng cho Th4) bảo chiều tối mai sẽ có hàng, nếu không có nó sẽ chịu phạt 10 triệu đồng cho Th4. Th4 nói vớibị cáo H chắc chắn tối mai có hàng, Th4 đang chờ để lấy.
- Thang lan- 0358716750 ngày 28/8/2019 là hội thoại có nội dung: Th4 nói vớibị cáo H chắc chắn 100% tầm 11 rưỡi đến12 giờ có hàng, số lượng là hai (Hải hiểu là 02 bánh Heroine).
- Thang lan- 0358716750 ngày 28/8/2010 là hội thoại có nội dung: Th4 thông báo vớibị cáo H hàng về rồi, chỉ có một thôi (Hải hiểu ý Th4 nói chỉ có 01 bánh Heroine), Th4 đang trên đường từ Bắc Ninh đem hàng về chobị cáo H.bị cáo H nói với Th4 đã bảo khách chuẩn bị tiền lấy hai miếng rồi. Th4 nói tối thứ 6 lại có tiếp, đầu trên bị động nên nó không dám mang nhiều về, tí lên đến đâu thì Th4 gọi chobị cáo H.
- Thang lan- 0358716750 ngày 28/8/2019 là hội thoại có nội dung: L3nói với bị cáo H đang trên đường đến chỗbị cáo H, L3bảobị cáo H bán lại cho 02 hộp 10 (Hải hiểu là 20 gam ma túy đá). L3nói với bị cáo H là để lại giá 06 triệu/02 hộp,bị cáo H nói 07 triệu. L3đưa điện thoại cho Th4, Th4 nói số 7 xấu và bảobị cáo H bớt đi thìbị cáo H nói thế thì 6,8 triệu. Th4 nói thế thì để giá lộc mãi (Hải hiểu là 6,2 triệu đồng).
- Thang lan- 0358716750 ngày 29/8/2019 không có nội dung trao đổi gì.bị cáo H khai có thể dobị cáo H chạm vào điện thoại nên tự gọi.
- Thuan Em Kép-190829-14 ngày 29/8/2019 là hội thoại có nội dung:bị cáo H nói với Bị cáo Th1 làbị cáo H đang trên đường đến.
- Thuan Em Kép- 190829-15 ngày 29/8/2019 là hội thoại có nội dung:bị cáo H điện thoại cho Bị cáo Th1 hỏi ở đâu thì Bị cáo Th1 trả lời đang ở ngoài xe lấy tiền và bảobị cáo H cứ vào trong phòng trọ đi.
Ngày 10/9/2019, Cơ quan điều tra đã trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B yêu cầu chuyển nội dung các file ghi âm là các cuộc hội thoại nêu trên thành dạng văn bản. Kết luận giám định số 1503 ngày 23/9/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B đã chuyển nội dung các file ghi âm là các cuộc hội thoại thành văn bản với nội dung phù hợp với lời khai nêu trên củabị cáo H (BL119-132). Ngày 21/10/2019, Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định Viện khoa học hình sự Bộ Công an giám định giọng nói của Đinh Ngọc H, Hoàng Quyết Th4 và Đặng Thị L3trong các file ghi âm. Kết luận giám định số 6267 ngày 29/11/2019 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Giọng nói trong các file ghi âm gửi giám định là của Đinh Ngọc H, Hoàng Quyết Th4, không xác định được có hay không giọng nói của Đặng Thị L3do mẫu so sánh chất lượng kém (BL221-223). Ngày 30/8/2019 và ngày 23/9/2019, Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định dấu vết đường vân của Đinh Ngọc H, Hoàng Quyết Th4 và Đặng Thị L3trên mẫu vật là ma túy thu giữ củabị cáo H. Các kết luận giám định số 1565 ngày 20/9/2019, số 1566 ngày 28/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận: Phát hiện có 04 dấu vết đường vân trên vật chứng thu giữ nhưng không trùng với dấu vết đường vân của Đinh Ngọc H, Hoàng Quyết Th4 và Đặng Thị L3(BL137-141).
Ngày 09/10/2019, Cơ quan điều tra trưng cầu giám định phục hồi dữ liệu cuộc gọi và tin nhắn đi-đến, dữ liệu trong các ứng dụng Zalo, Facebook, Messenger đối với các điện thoại thu giữ củabị cáo H. Kết luận giám định số 5987 ngày 31/10/2019 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Tìm thấy 57 cuộc gọi và 02 tin nhắn lưu giữ trong điện thoại nhãn hiệu Iphone. Tìm thấy 149 cuộc gọi, 19 tin nhắn, 18 đoạn hội thoại của ứng dụng Messenger và 06 tin nhắn trong thẻ sim của điện thoại nhãn hiệu Samsung màu vàng đồng, bên trong có lắp thẻ sim 0971599560. Tìm thấy 892 cuộc gọi trong lịch sử cuộc gọi, 471 cuộc gọi của ứng dụng Zalo, 27 hội thoại của ứng dụng Messenger lưu trong điện thoại nhãn hiệu Samsung màu xám. Cơ quan điều tra đã kiểm tra toàn bộ nội dung dữ liệu giám định phục hồi được nhưng không có nội dung nào liên quan đến Hoàng Quyết Th4 và Đặng Thị L3(BL168-221, 170-221).
Ngày 06/9/2019, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 đầu thu camera do bị cáo H lắp đặt tại nhà nghỉ Thanh Sơn. Kiểm tra dữ liệu lưu trong đầu thu camera xác định được: Ngày 29/8/2019 (ngàybị cáo H bị bắt) có hình ảnhbị cáo H mặc quần đùi, cởi trần trên tay xách túi nilon màu đỏ và một vật màu đen đi từ trong phòng tầng 2 xuống xe ôtô củabị cáo H để ở sân nhà nghỉ. Hai khai đó là túi ma túybị cáo H mang đi bán cho Bị cáo Th1 và bị bắt quả tang. Ngày 12/9/2019, Cơ quan điều tra đã trưng cầu Viện Khoa học hình sự Bộ Công an giám định trích xuất, phục hồi dữ liệu trong đầu đầu thu camera. Kết luận giám định số 5339 ngày 01/10/2019 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Trích xuất được 342 tập tin video có tổng dung lượng là 214 Gb, dữ liệu hình ảnh ngày 29/8/2019 và từ ngày 03/9/20219 đến ngày 06/9/2019. Phục hồi được 358 tập tin video có tổng dung lượng 532 Mb, dữ liệu hình ảnh các ngày 12/8/2019, 21/8/2019, 22/8/2019 và từ ngày 24/8/2019 đến ngày 28/8/2019. Kiểm tra toàn bộ các tập tin video đã giám định phục hồi được, không có hình ảnh nào thể hiện Hoàng Quyết Th4 và Đặng Thị L3đến nhà nghỉ Thanh Sơn gặp bị cáo H. (BL159-164).
Hoàng Quyết Th4 và Đặng Thị L3khai có quen biếtbị cáo H, có liên lạc và gặpbị cáo H như bị cáo H khai, mục đích gặp là để mua bán hộp mỹ phẩm và miếng cao hổ chứ không pHải mua bán ma túy nhưbị cáo H khai. Nội dung file ghi âm giữabị cáo H, Th4 và L3không thể hiện việc trao đổi mua bán ma túy. Sau đó, Th4 và L3đã bỏ trốn khỏi địa phương và bị khởi tố, truy nã về tội “Lạm dung tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” trong một vụ án khác, Cơ quan điều tra chưa có cơ sở điều tra làm rõ nên đã tách phần tài liệu liên quan đến Th4 và Lan, tiếp tục điều tra làm rõ, xem xét xử lý sau. Phạm Ngọc Th1 khai có quen biếtbị cáo H vàbị cáo H đã đến phòng trọ của Bị cáo Th1 chơi, Bị cáo Th1 không thừa nhận đã mua bán ma túy vớibị cáo H nhưbị cáo H khai. Nội dung file ghi âm giữabị cáo H và Bị cáo Th1 không thể hiện việc trao đổi mua bán ma túy nên không có cơ sở để xử lý đối với Bị cáo Th1. Ngày 25/3/2020, Bị cáo Th1 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B khởi tố, tạm giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” trong một vụ án khác.
Ngày 29/8/2019, Phạm Thị Bé H5, sinh năm 2000, trú tại khu 6, phường Lái H5, thị xã Ngã Bẩy, tỉnh Hậu Giang (là bạn gái củabị cáo H) đi cùngbị cáo H đến khu vực nhà trọ của ông Lưu Hồng Tân nhưng H5 không biếtbị cáo H đến đây để mua bán ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với H5 là có căn cứ. Ông Phan Thanh S, sinh năm 1964 (là chủ nhà nghỉ Thanh Sơn) và anh Phan Thanhbị cáo H, sinh năm 1962 (là người quản lý nhà nghỉ Thanh Sơn), cả hai trú tại thôn Mai Hoàng, xã Phúc S, huyện Tân Y, tỉnh B đều không biếtbị cáo H có hành vi mua bán ma túy tại nhà nghỉ của mình nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.bị cáo H khai, trước khi bị bắt khoảng 01 tháng,bị cáo H mua 01 khẩu súng và 35 viên đạn tại khu vực cửa khẩu quốc tế Tân Thanh, tỉnh Lạng S mục đích để chơi, chưa sử dụng súng lần nào. Ngày 08/5/2020, Giám đốc Công an tỉnh B đã ra quyết định xử phạt hành chính, xử phạtbị cáo H 15 triệu đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép vũ khí thể thao” (BL118).
Đối với số tiền 37.100.000 đồng, 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 hộ cH5 đều mang tên Phạm Thị Bé H5 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo là của chị H5, không liên quan đến hành vi phạm tội củabị cáo H. Ngày 09/12/2019, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị H5 các đồ vật, tài sản trên (BL293-294).
2- Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Đinh Ngọc H, Trịnh Xuân H1 và Nguyễn Huyền Tr
Hồi 20 giờ 40 phút ngày 02/10/2019, Công an huyện Tân Y, tỉnh B kiểm tra hành chính nhà nghỉ Thanh Sơn ở thôn Mai Hoàng, xã Phúc S, huyện Tân Y phát hiện tại phòng 205 có Trịnh Xuân H1, sinh năm 1996, ở thôn Lữ Vân, xã Phúc S, huyện Tân Y; Nguyễn Huyền Tr, sinh ngày 19/3/2003, ở thôn Phúc Hòa, xã Phúc Ư, huyện Sơn D, tỉnh Tuyên Q và Nguyễn Văn C, sinh năm 1988 ở thôn Long Vân, xã Phúc S, huyện Tân Y. Kết quả kiểm tra đã phát hiện, thu giữ:
- Thu tại bồn cầu nhà vệ sinh trong phòng 205: 06 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu, trong đó có 05 đoạn ống nhựa màu đỏ, mỗi đoạn chứa 01 viên nén hình tròn màu hồng đỏ, trên một mặt của các viên nén đều có chữ "WY" nghi là ma túy tổng hợp dạng hồng phiến và 01 đoạn ống nhựa màu hồng nhạt bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp dạng đá (đã niêm phong trong 01 phong bì thư ký hiệu "KT").
- Thu tại vị trí cạnh chiếc loa màu đen ở tầng 3 của giá sắt trong phòng 205: 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa có vạch kẻ màu đỏ, bên trong đựng 25 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu, gồm 17 đoạn ống nhựa (14 đoạn màu đỏ, 03 đoạn màu tím) bên trong mỗi đoạn đều chứa 01 viên nén màu hồng đỏ, trên một mặt của mỗi viên đều có chữ "WY" nghi là ma túy tổng hợp dạng hồng phiến và 08 đoạn ống nhựa (05 đoạn màu xanh, 02 đoạn màu hồng nhạt, 01 đoạn màu cam) bên trong mỗi đoạn đều đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp dạng đá (đã niêm phong trong 01 phong bì thư ký hiệu "KX").
- Thu giữ của Bị cáo H1 03 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, 01 xe môtô BKS 29V1-230.86 và 6.800.000 đồng; thu giữ của Cường 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, 03 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, 01 ví da màu đen cầm tay, 01 ví da màu đen bên trong có 3.950.000 đồng; thu giữ của Bị cáo Tr 01 ví da màu đen, trong có 1.221.000 đồng; thu tại giường ngủ trong phòng 205 có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại 105 (BL 679-685).
Hồi 09 giờ 30 phút ngày 03/10/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Y đã khám xét khẩn cấp nhà ở của Trịnh Xuân H1 tại thôn Lữ Vân, xã Phúc S, huyện Tân Y, thu giữ:
- Thu tại gầm giường trong phòng ngủ tầng một: 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa và viền mầu đỏ, bên trong đựng 01 gói giấy màu trắng được gói bằng 03 tờ giấy màu trắng có in chữ “A” màu xanh bên trong đựng:
+ 02 túi nilon mầu trắng một đầu của mỗi túi đều có rãnh khóa bằng nhựa và viền màu đỏ, bên trong đựng 01 túi nilon màu hồng có rãnh khóa nhựa, một mặt in chữ “A” bên trong chứa các viên nén màu hồng đỏ, màu xanh, trên một mặt của mỗi viên nén có chữ “WY” nghi là ma túy tổng hợp.
+ 02 túi nilon màu trắng một đầu của mỗi túi đều có rãnh khóa bằng nhựa và viền mầu đỏ, bên trong đựng 01 túi nilon màu xanh có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ bên trong chứa các viên nén màu hồng đỏ, màu xanh, trên một mặt của mỗi viên nén có chữ “WY” nghi là ma túy tổng hợp.
+ 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa và viền màu đỏ, bên trong đựng 04 túi nilon màu trắng có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ bên trong mỗi túi đều chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp.
+ 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa và viền màu đỏ, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp.
- Thu tại phía đầu giường (khe giữa đầu giường với tường nhà) trong phòng ngủ tầng một: 01 hộp giấy màu tím than, kích thước (3x7x28) cm, mặt ngoài có in chữ “VINOCE”, có quai xách màu đen bên trong chứa 01 hộp giấy hình chữ nhật màu tím than, có nắp đậy bằng xốp màu đen được cuốn bằng dây chun nịt màu đỏ, bên trong chứa 10 túi nilon màu trắng, viền màu đỏ trong đó có:
+ 08 túi bên trong mỗi túi đều có 01 túi nilon màu xanh, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, và viền màu đỏ, bên trong mỗi túi đều chứa các viên nén màu hồng đỏ, màu xanh, trên một mặt của mỗi viên nén đều có chữ “WY” nghi là ma túy tổng hợp.
+ 02 túi bên trong mỗi túi đều có 01 túi nilon màu hồng, một mặt mỗi túi có in chữ “A” bên trong mỗi túi đều chứa các viên nén màu hồng đỏ, màu xanh, trên một mặt của mỗi viên nén đều có chữ “WY” nghi là ma túy tổng hợp.
- 01 hộp giấy màu tím than, kích thước (3x7x28) cm, mặt ngoài có in chữ “VINOCE”, có quai xách màu đen, bên trong đựng 11 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, và viền màu đỏ trong đó có:
+ 09 túi bên trong mỗi túi đều có 01 túi nilon màu xanh, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa , viền màu đỏ, bên trong mỗi túi đều chứa các viên nén màu hồng đỏ, màu xanh, trên một mặt của mỗi viên nén đều có chữ “WY” nghi là ma túy tổng hợp.
+ 02 túi bên trong mỗi túi đều có chứa 01túi nilon màu hồng, một mặt mỗi túi có in chữ “A” bên trong mỗi túi đều chứa các viên nén màu hồng đỏ, màu xanh, trên một mặt của mỗi viên nén đều có chữ “WY” nghi là ma túy tổng hợp.
- Thu tại kẽ tường phía bắc trong phòng ngủ tầng một, cách nền nhà 1,52 mét có 02 túi nilon đều màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ, bên trong đều đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp.
- Thu tại góc bờ tường phía Tây Bắc có 01 thùng bìa cát tông trong đựng 10 hộp ống giấy bạc nhãn hiệu "Ringo Aluminum Foil", 10 túi nhãn hiệu "Artistic Straw" trong đều đựng các ống nhựa có nhiều màu sắc.
Tất cả những vật chứng nêu trên đã được niêm phong trong 01 hộp bìa cát tông (BL 715-718, 733-735).
Hồi 15 giờ ngày 03/10/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Y đã tiến hành xác định hiện trường tại nhà nghỉ Thanh Sơn, thu giữ trong phòng 205:
- 01 túi nilon màu trắng, trong chứa các túi nilon đều có màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa và viền màu đỏ; 01 hộp giấy màu vàng, trên bề mặt hộp có ghi chữ "Best Use" và dòng chữ "Ăn ngủ ngon GH", trong hộp có 08 chùm chìa khóa; 01 chiếc bật lửa màu vàng bằng kim loại, nắp bật lửa có chữ "Ferari"; 01 túi nilon màu trắng trong đựng các ống hút có chiều dài khác nhau với nhiều màu khác nhau; 01 mẩu nến màu trắng, dài 04 cm, đường kính 01 cm, một đầu đã bị đốt; 01 hộp hình trụ tròn không có nắp đậy, viền hộp có chữ "Danisa", trong hộp đựng các mẩu giấy bạc màu trắng bạc (đã niêm phong trong 01 thùng bìa cát tông ký hiệu 01).
- 01 máy tính bảng màu trắng, nhãn hiệu Samsung; 01 bộ đầu thu camera gồm 01 đầu thu màu trắng nhãn hiệu Hikvision, 01 mắt camera nhãn hiệu @Jhua màu trắng, 01 dây dẫn điện màu trắng, 02 dây dẫn điện màu đen (đã niêm phong trong 01 thùng bìa cát tông ký hiệu 02).
- 01 màn hình tivi màu đen có viền bằng kim loại, kích thước (32x54x5)cm nhãn hiệu Chimei Innolux; 01 loa màu đen, kích thước (19x20x40)cm, trên bề mặt loa có ghi chữ "Crown" màu vàng; 02 biển số xe ôtô biển kiểm soát 30K-5688 (BL 686-732, 737-740).
Ngày 03/10/2019, ông Trịnh Văn Đ, sinh năm 1947 trú tại thôn Lữ Vân, xã Phúc S, huyện Tân Y là ông nội của Bị cáo H1 giao nộp chơ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Y 01 xe môtô màu đỏ-trắng, nhãn hiệu FX125, biển kiểm soát 90F1-9909 (BL 736).
Kết luận giám định số 1570 ngày 03/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận:
- Trong phong bì ký hiệu "KT" niêm phong gửi giám định: 05 viên nén màu hồng đỏ, trên một mặt của mỗi viên nén đều có chữ “WY” đựng trong 05 đoạn ống nhựa màu đỏ đều được hàn kín hai đầu, đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,497 gam. Tinh thể màu trắng đựng trong 01 đoạn ống nhựa màu hồng nhạt được hàn kín hai đầu, là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,076 gam.
- Trong phong bì ký hiệu "KX" niêm phong gửi giám định: 17 viên nén màu hồng đỏ, trên một mặt của mỗi viên nén đều có chữ “WY” đựng trong 17 đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu, đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 1,697 gam. Tinh thể màu trắng đựng trong 08 đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu, đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,648 gam (BL879-880).
Kết luận giám định số 1642 ngày 18/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận: Toàn bộ số vật chứng nghi là ma túy tổng hợp thu giữ khi khám xét khẩn cấp nhà Trịnh Xuân H1 được niêm phong trong 01 hộp bìa cát tông (chi tiết như nêu trên) đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng là 573,133 gam (BL 885-887).
Kết luận giám định số 1730 ngày 28/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận:Trên các mẫu vật thu giữ được khi khám xét khẩn cấp nhà Trịnh Xuân H1 được niêm phong trong 01 hộp bìa cát tông (chi tiết như nêu trên) gửi giám định có 02 dấu vết đường vân đủ yếu tố giám định không trùng với dấu vân in trên chỉ bản của Trịnh Xuân H1 và dấu vân in trên chỉ bản của Đinh Ngọc H. Kết luận giám định số 1731 ngày 29/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận:Trên các mẫu vật thu giữ được khi kiểm tra hành chính phòng 205 nhà nghỉ Thanh Sơn được niêm phong trong 02 phong bì thư ký hiệu "KT" và "KX" gửi giám định phát hiện có một số dấu vết đường vân dạng mờ nhòe, chồng chéo, không đủ yếu tố giám định.
Quá trình điều tra, Đinh Ngọc H, Trịnh Xuân H1 và Nguyễn Huyền Tr khai:
Khoảng đầu năm 2018, qua quan hệ xã hội, Trịnh Xuân H1 quen biết Đinh Ngọc H.Khoảng tháng 5/2019, Trịnh Xuân H1 đến phòng 204 nhà nghỉ Thanh Sơn ở cùng Đinh Ngọc H. Mấy ngày sau,bị cáo H bảo Bị cáo H1 thuê phòng 205 sát phòngbị cáo H để ở và tiện cho việc giúpbị cáo H cầm cố xe máy, điện thoại. Quá trình ở cùng vớibị cáo H ở nhà nghỉ Thanh Sơn ngoài việc cầm cố tài sản giúpbị cáo H, thìbị cáo H đã nhiều lần đưa ma túy để Bị cáo H1 bán lẻ, số lượng ma túy mỗi lần đưa khoảng vài chục viên ma túy hồng phiến và vài gam ma túy đá. Trong thời gian này Bị cáo H1 có quan hệ tình cảm với Nguyền Huyền Bị cáo Tr, sinh năm 2003 trú tại thôn Phúc Hòa, xã Phúc Ư, huyện Sơn D, tỉnh Tuyên Q là nhân viên quán hát karaoke của Nguyễn Thế Thùy, sinh năm 1982 ở thôn Đông An, xã Lam C, huyện Tân Y, tỉnh B.
Khoảng tháng 7/2019, Bị cáo H1 đưa Bị cáo Tr về ở cùng tại phòng 205 nhà nghỉ Thanh Sơn. Sau khi đượcbị cáo H giao cho ma túy để bán lẻ, Bị cáo H1 mang ma túy về phòng 205, dùng các đoạn ống nhựa (loại ống hút) để đóng ma túy bán lẻ, ống nhựa được Bị cáo H1 cắt ra thành từng đoạn khoảng 2cm, mỗi đoạn ống Bị cáo H1 cho vào 01 viên ma túy hồng phiến để bán với giá 100.000 đồng, ma túy đá thì chia theo số bằng cân điện tử, đoạn cân 12 số bán với giá 100.000 đồng, đoạn cân 22 số bán với giá 200.000 đồng. Sau khi chia ma túy xong, Bị cáo H1 để vào chiếc hộp màu đỏ để trên chiếc loa ở đầu giường để bán lẻ. Khi có khách đến cửa phòng gọi hỏi mua ma túy, Bị cáo H1 quan sát camera được cài đặt trong điện thoại và yêu cầu khách đút tiền qua khe cửa phía dưới. Sau khi nhận tiền, Bị cáo H1 lấy ma túy đút qua khe cửa ra ngoài cho khách. Những lần Bị cáo H1 đóng, bán ma túy như vậy thì Bị cáo Tr đều có mặt trong phòng nên biết việc. Sau này, khi Bị cáo H1 mang ma túy dobị cáo H giao cho về phòng 205 thì Bị cáo Tr là người chủ động giúp Bị cáo H1 đóng gói theo cách mà Bị cáo H1 làm, đồng thời Bị cáo Tr cũng tham gia việc bán ma túy giúp Bị cáo H1 theo cách mà Bị cáo H1 bán qua khe cửa. Khi có mặt cả Bị cáo H1 và Bị cáo Tr ở phòng, khách đến mua ma túy thì có lần là Bị cáo H1 lấy ma túy bán, có lần thì Bị cáo H1 bảo Bị cáo Tr lấy ma túy bán nhưng chủ yếu là do Bị cáo Tr bán. Khi Bị cáo H1 đi vắng không có mặt ở phòng, có khách đến mua ma túy thì Bị cáo Tr là người trực tiếp bán ma túy, nếu khách điện thoại cho Bị cáo H1 hỏi mua ma túy, Bị cáo H1 sẽ điện thoại cho Bị cáo Tr bảo Bị cáo Tr nhận tiền và đưa ma túy qua khe cửa cho khách. Tiền bán ma túy mà có Bị cáo Tr và Bị cáo H1 dùng chi tiêu sinh hoạt và trả tiền phòng trọ, phần còn lại Bị cáo H1 đưa lại chobị cáo H.
Lần cuốibị cáo H đưa ma túy cho Bị cáo H1 là trước khibị cáo H bị bắt (ngày 29/8/2019) mấy ngày. Bị cáo H1 và Bị cáo Tr chia lẻ ma túy và đóng được khoảng 70 đoạn ống nhựa để bán lẻ cho khách. Đến ngày 02/10/2019, Bị cáo H1 và Bị cáo Tr đã bán được ma túy cho nhiều người, chỉ còn lại 11 đoạn ống nhựa ma túy, Bị cáo H1 để trong hộp giấy màu đỏ để ở đầu giường trong phòng 205. Khi thấy cơ quan công an đến kiểm tra hành chính, vì sợ bị phát hiện nên Bị cáo H1 đã cầm hộp giấy đỏ đựng 11 ống nhựa đựng ma túy chạy vào nhà vệ sinh trong phòng 205, đổ 11 ống nhựa ma túy vào bồn cầu rồi xả nước nhưng không trôi hết, còn lại 06 đoạn ống nhựa đựng ma túy thì bị cơ quan công an thu giữ.
Bị cáo H1 và Bị cáo Tr đều khai, với thủ đoạn bán ma túy như đã nêu trên, đến thời điểm bị bắt, Bị cáo H1 và Bị cáo Tr đã nhiều lần bán ma túy cho nhiều người nhưng không nhớ hết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của những người mua ma túy cũng như số lượng, khối lượng ma túy đã bán. Bị cáo H1 và Bị cáo Tr chỉ nhớ đã bán ma túy cho một số người sau: Anh Nguyễn Ngọc H4, sinh năm 1995, trú tại thôn Đài Sơn, xã Phúc S, huyện Tân Y, tỉnh B; chị Trần Thị Thúy Ng, sinh năm 1997, trú tại tổ 8, phường Tân L, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Ng (là nhân viên nhà nghỉ Thanh Sơn); anh Nguyễn Xuân Võ, sinh năm 1997, trú tại thôn Chám, xã Phúc S, huyện Tân Y, tỉnh B; anh Ngô Văn Hoàng, sinh năm 1995, trú tại thôn Mai Hoàng, xã Phúc S, huyện Tân Y, tỉnh B; chị Dung “béo” là nhân viên nhà nghỉ Thanh Sơn, ông Phan Thanh S (chủ nhà nghỉ Thanh Sơn); anh H5 ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Ng.
Căn cứ lời khai của Bị cáo H1, Bị cáo Tr, lời khai của anh Nguyễn Ngọc H4, chị Trần Thị Thúy Ng, xác định được: Cách ngày Bị cáo H1 bị bắt khoảng 05 ngày, Bị cáo H1 và Bị cáo Tr bán cho Huy 01 ống nhựa đựng ma túy đá với giá 200.000 đồng và 01 ống nhựa đựng ma túy hồng phiến với giá 100.000 đồng. Cách ngày Bị cáo H1 bị bắt khoảng 02 ngày, Bị cáo H1 và Bị cáo Tr bán cho Huy 01 ống nhựa đựng ma túy đá với giá 100.000 đồng và 01 ống nhựa đựng ma túy hồng phiến với giá 100.000 đồng. Cách ngày Bị cáo H1 bị bắt khoảng 02 ngày, Bị cáo H1 và Bị cáo Tr bán cho Ngân 01 ống nhựa đựng ma túy đá với giá 100.000 đồng và 01 ống nhựa đựng ma túy hồng phiến với giá 100.000 đồng. Chiều ngày 02/10/2019 (ngày Bị cáo H1 bị bắt), Bị cáo H1 và Bị cáo Tr bán cho Ngân 01 ống nhựa đựng ma túy đá với giá 100.000 đồng và 01 ống nhựa đựng ma túy hồng phiến với giá 100.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã kiểm tra dữ liệu lưu trong đầu thu camera nhãn hiệu Hikvision thu giữ tại phòng 205 do Bị cáo H1 lắp đặt tại nhà nghỉ Thanh Sơn sau khibị cáo H bị bắt, xác định được đầu thu camera còn lưu dữ liệu video từ ngày 23/9/2019 đến ngày 30/9/2019 (theo thời gian hiển thị trên camera). Kiểm tra dữ liệu xác định được có nhiều hình ảnh thể hiện có nhiều người đi đến cửa phòng 205 rồi đứng chờ và có biểu hiện mua ma túy. Cơ quan điều tra đã trích xuất được 82 tệp (file) video có liên quan và mở cho Bị cáo H1, Bị cáo Tr xem để xác định. Sau khi xem các video, Bị cáo H1 và Bị cáo Tr đều khẳng định hình ảnh những người đến cửa phòng 205 là phòng của Bị cáo H1 và Bị cáo Tr trong đó có nhiều người đến để mua ma túy như lời khai của các bị can. Anh Nguyễn Ngọc H4 và chị Trần Thị Thúy Ng cũng được Cơ quan điều tra cho xem hình ảnh có liên quan. Cả Huy và Ngân đều nhận ra hình ảnh của mình và khẳng định đã nhiều lần đến cửa phòng 205 của Bị cáo H1 và Bị cáo Tr mua ma túy để sử dụng. Các video hình ảnh trích xuất từ camera phù hợp với lời khai của các bị can và những người có liên quan. Kết quả kiểm tra các điện thoại thu giữ của các bị can, xác định được có nhiều tin nhắn giữa Bị cáo H1 và Bị cáo Tr có nội dung liên quan đến việc bán ma túy, phù hợp lời khai của Bị cáo H1 và Bị cáo Tr. Kết quả kiểm tra hiện trường phòng 205 nhà nghỉ Thanh Sơn xác định được: Cửa ra vào phòng 205 là loại cửa nhôm kính gồm 02 cánh mở vào trong, mỗi cánh có kích thước (2,1x0,51) mét. Khi đóng kín hai cánh cửa phòng lại, quan sát phía dưới 02 cánh cửa có khe hở có kích thước (1,02x0,05) cm so với nền gạch. Kết quả xác định hiện trường như trên phù hợp lời khai của Bị cáo H1 và Bị cáo Tr về việc bán ma túy qua khe cửa phòng. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Bị cáo Tr và Bị cáo H1 thực nghiệm điều tra việc đóng gói ma túy và bán ma túy qua khe cửa. Kết quả thực nghiệm điều tra phù hợp với vật chứng thu giữ, lời khai của các bị can và những người liên quan.
Nguyễn Văn C là người có mặt trong phòng 205 khi cơ quan công an kiểm tra nhưng không có căn cứ xác định số ma túy thu giữ trong phòng là của Cường nên không có cơ sở xem xét xử lý. Anh Nguyễn Ngọc H4 và chị Trần Thị Thúy Ng là những người mua ma túy của Bị cáo H1 và Bị cáo Tr là để sử dụng. Quá trình điều tra không thu giữ được vật chứng, không xét nghiệm được tình trạng sử dụng ma túy nên chưa đủ cơ sở để kết luận anh H4, chị Ng đã sử dụng ma túy hay chưa để xem xét xử lý.
Đối với những người có liên quan khác trong vụ án, căn cứ lời khai của các bị can quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã xác minh làm rõ làm rõ được nhân thân của một số người như Giáp Văn Lên, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Xuân Võ, Ngô Văn Hoàng, Nguyễn Văn Sơn. Cơ quan điều tra đã triệu tập những người liên quan trên đến làm việc nhưng họ đều trốn tránh, không đến làm việc nên không có có căn cứ để xem xét xử lý.
Đối với 0,648 gam ma túy Methamphetamin thu giữ trong phòng 205 nhà nghỉ Thanh Sơn và 573,133 gam ma túy Methamphetamin thu giữ khi khám xét khẩn cấp nhà Trịnh Xuân H1: Quá trình điều tra các bị can khai không biết số ma túy đó của ai. Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra nhưng chưa đủ cơ sở kết luận số ma túy này là của ai. Ngày 29/6/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra Quyết định số 04 tách vụ án đối với số ma túy nêu trên để điều tra làm rõ ở vụ án riêng.
Biển kiểm soát 29V1-230.86 là của xe môtô nhãn hiệu Honda SH150i, người đứng tên đăng ký xe là anh Nguyễn Bá Th3, sinh năm 1987, trú tại thôn Quất Tỉnh, xã Quất Đ, huyện Thường T, TP Hà Nội. Anh Th2 khai đã bán xe môtô BKS 29V1-230.86 cho người khác, anh không nhớ đã bán cho ai. Người đứng tên đăng ký xe môtô BKS 90F1-9909 là Nguyễn Thị Hương ở tổ 02, phường Hai Bà Trưng, TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không xác định được người có tên là Nguyễn Thị Hương có địa chỉ như trên. Xe môtô nhãn hiệu Dream gắn BKS 29V1-230.86 có số máy, số khung là xe môtô nhãn hiệu Honda Super Dream BKS 12K9-3089 của anh Lý Văn H5, sinh năm 1981, trú tại thôn Tồng Cút, xã Bắc Th, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng S. Anh H5 bị kẻ gian trộm cắp xe môtô và đã trình báo đến Công an huyện Chi L, tỉnh Lạng S. Ngày 29/4/2020, Cơ quan điều tra đã bàn giao xe môtô BKS 12K9-3089 cho Công an huyện Chi L, tỉnh Lạng S để xử lý. Các đồ vật, tài sản thu giữ của anh Nguyễn Văn C không liên quan đến hành vi phạm tội, ngày 19/02/2020, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh C 04 điện thoại di động, 02 ví da và 3.950.000 đồng.
Quá trình điều tra Đinh Ngọc H, Trịnh Xuân H1 và Nguyễn Huyền Tr đã khai nhận hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Với nội dung trên bản cáo trạng số 50/CT-VKS-P1ngày 26/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B truy tố bị cáo Đinh Ngọc H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 điều 251 BLHS; các bị cáo Trịnh Xuân H1 và Nguyễn Huyền Tr về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 điều 251 BLHS
Tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố.
Bị cáobị cáo H trình bày: Bị cáo xác nhận có hành vi mua bán trái phép 472,8 gam ma túy Methamphetamine và 462,5 gam ma túy Heroine. Và quá trình khám xét xe ôtô của bị cáo thu giữ được 0,241 gam ma túy Heroine, khám xét khẩn cấp nơi ở củabị cáo H thu giữ được 10,8 gam ma túy Methamphetamine, bị cáo xác định toàn bộ số ma túy trên bị cáo tàng trữ số ma túy nêu trên đều nhằm mục đích để bán. Nay về hành vi phạm tội bị cáo không có ý kiến gì. Tuy nhiên, bị cáo không thừa nhận có hành vi đưa cho Bị cáo H1 ma túy để Bị cáo H1 bán mà chỉ đưa cho Bị cáo H1 để Bị cáo H1 sử dụng và chiêu đãi bạn bè. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho anh Đinh Ngọc Thchiếc xe ô tô BMV vì đây là chiếc xe bị cáo vay tiền của anh Th để mua hộ anh Th, không pHải là xe của bị cáo. Đối với số tiền thu giữ của bị cáo, bị cáo đề nghị được trả lại để bị cáo trả cho anh Th, số tiền này không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo Trịnh Xuân H1 trình bày: Bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép 06 đoạn ống nhựa trong đựng 0,573 gam ma túy Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời. Số ma túy này là của Đinh Ngọc H đưa cho bị cáo để bị cáo sử dụng và mời bạn bè nhưng bị cáo tự ý bán trái phép cho người khác,bị cáo H không biết bị cáo bán ma túy. Bị cáo và Nguyễn Huyền Tr đã chia lẻ số ma túy do Đinh Ngọc H đưa cho, sau đó đã nhiều lần bán trái phép ma túy cho nhiều người khác. Bị cáo không dụ dỗ hay xúi giục gì Bị cáo Tr trong việc mua bán trái phép chất ma túy. Tài sản của bị cáo bị tạm giữ bị cáo đề nghị được trả lại vì không liên quan đến hành vi phạm tội.
Bị cáo Bị cáo Tr và đại diện hợp pháp cho bị cáo Bị cáo Tr thống nhất trình bày: Bị cáo xác định có hành vi giúp sức cho Bị cáo H1 trong việc bán ma túy, bị cáo không có ý kiến gì tội danh và điều khoản mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo tự nguyện thực hiện hành vi giúp sức cho Bị cáo H1, Bị cáo H1 không xúi giục hay ép buộc gì bị cáo. Bị cáo đề nghị được nhận lại số tiền đã bị thu giữ.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đinh Ngọc Th trình bày: Anh là em trai của bị cáobị cáo H, anh có nhờbị cáo H mua hộ anh chiếc xe ô tô, tổng số tiền anh đưa chobị cáo H khoảng hơn 400.000.000đồng. Tuy nhiên, do là anh em trong gia đình nên không viết giấy tờ gì về việc anh đưa tiền chobị cáo H. Chiếc xe BMV là xebị cáo H mua hộ anh, nhưng anh chobị cáo H mượn để đi, anh không biết việcbị cáo H để ma túy trong xe. Anh không có giấy tờ mua bán gì đối với chiếc xe này. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho anh chiếc xe nêu trên.
- Bà Nguyễn Thị L trình bày: Bà là mẹ của bị cáobị cáo H, bà không bị thu giữ tài liệu, đồ vật gì. Bà không biết việcbị cáo H mua bán ma túy. Bà xác định không liên quan gì đến vụ án.
* Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị Dần trình bày: Bà biết việc Bị cáo H1 cho thuê nhà, nhưng do bà già yêu nên không biết Bị cáo H1 cho ai thuê, bà không biết gì về việc Bị cáo H1 mua bán trái phép chất ma túy.
- Bà Doãn Thị S trình bày: Bà là mẹ của bị cáo Bị cáo H1, từ năm 2016 bà đi làm ăn xa, không ở cùng Bị cáo H1 nên việc Bị cáo H1 cho ai thuê nhà bà không được biết.
Qua thẩm vấn tại phiên toà, kiểm sát viên phát biểu lời luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về tội danh
- Tuyên bị cáo Đinh Ngọc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên các bị cáo Trịnh Xuân H1, Nguyễn Huyền Tr đều phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
2. Về hình phạt chính và hình phạt bổ sung
- Đối với bị cáo Đinh Ngọc H: Áp dụng điểm h khoản 4 và khoản 5 Điều 251, Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 39 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo tù chung thân, phạt bổ sung bằng tiền 10 triệu đồng.
- Đối với bị cáo Trịnh Xuân H1: Áp dụng Điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 07 (bẩy) năm đến 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/10/2019, phạt bổ sung bằng tiền 05 triệu đồng.
- Đối với bị cáo Nguyễn Huyền Tr: Áp dụng Điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 03 (ba năm) năm đến 03 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Ngoài ra còn đề nghị giải quyết về vật chứng, về án phí.
Luật sư Giáp Văn Điệp bào chữa cho bị cáo Đinh Ngọc H trình bày: nhất trí Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như Kiểm sát viên đề nghị. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS vì bị cáo thành khẩn khai báo, nếu đấu tranh được với anh Hoàng Quyết Th4 thì có thể áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ là tích cực hợp tác với cơ quan điều tra theo điểm t khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự. Luật sư không nhất trí áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Nếu áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự thì cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là người phạm tội tự thú đối với hành vi phạm tội bị cáo thực hiện trước đó. Đề nghị của Viện kiểm sát xử phạt bị cáo tù chung thân là nặng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được bị cáo H1 ở mức khởi điểm của khung hình phạt là 20 năm tù. Đề nghị trả lại cho bị cáo tài sản hợp pháp của bị cáo đã bị thu giữ.
Bị cáobị cáo H đồng ý với quan điểm bào chữa của luật sư và không có ý kiến tranh luận gì.
Luật sư Thân Văn Lợi bào chữa cho bị cáo Nguyễn Huyền Tr nhất trí Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như Kiểm sát viên đề nghị. Tuy nhiện, bị cáo không hề có mục đích vụ lợi, chỉ vì giúp đỡ người yêu, bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng b khoản 2 Điều 251, Điều 17, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 90, Điều 91, Điều 101 BLHS xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Bị cáo Bị cáo Tr đồng ý với quan điểm bào chữa của luật sư và không có ý kiến tranh luận gì.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Bị cáo Tr: Không có ý kiến tranh luận gì.
Kiểm sát viên đối đáp với luật sư bào chữa cho bị cáo: Giữ nguyên quan điểm đề nghị, không đồng ý với quan điểm của luật sư.
Bị cáo Bị cáo H1 không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáobị cáo H: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được bị cáo H1 sự khoan hồng của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo Bị cáo H1: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được bị cáo H1 sự khoan hồng của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo Bị cáo Tr: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo và bị cáo Bị cáo H1 được bị cáo H1 sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Kể từ khi khởi tố vụ án hình sự, trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án, HĐXX thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên và Luật sư bào chữa cho các bị cáo đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên và Luật sư bào chữa cho bị cáo thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, không có hành vi, quyết định tố tụng nào vi phạm tố tụng.
. Tại phiên toà các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu, xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người người liên quan và người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các kết luận giám định, vật chứng thu giữ, nên đã có đủ cơ sở để xác định:
Hồi 15 giờ 45 phút ngày 29/8/2019, tại khu vực sân khu nhà trọ của ông Lưu Hồng Tân, sinh năm 1948 ở thôn Đầu Cầu, xã Yên M, huyện Lạng G, tỉnh B, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B bắt quả tang Đinh Ngọc H, sinh năm 1976, trú tại phố Lao Động, Thị trấn Nhã N, huyện Tân Y, tỉnh B đang có hành vi mua bán trái phép 472,8 gam ma túy Methamphetamine và 462,5 gam ma túy Heroine. Khám xét xe ôtô củabị cáo H thu giữ được 0,241 gam ma túy Heroine, khám xét khẩn cấp nơi ở củabị cáo H thu giữ được 10,8 gam ma túy Methamphetamine,bị cáo H khai tàng trữ số ma túy nêu trên đều nhằm mục đích để bán.
Sau khi Đinh Ngọc H bị bắt, hồi 20 giờ 40 phút ngày 02/10/2019, Công an huyện Tân Y, tỉnh B kiểm tra hành chính nhà nghỉ Thanh Sơn ở thôn Mai Hoàng, xã Phúc S, huyện Tân Y, tỉnh B. Kết quả kiểm tra đã phát hiện Trịnh Xuân H1 và Nguyễn Huyền Tr có hành vi tàng trữ trái phép 06 đoạn ống nhựa trong đựng 0,573 gam ma túy Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời. Số ma túy này là của Đinh Ngọc H đưa cho Trịnh Xuân H1 để bán trái phép cho người khác. Trịnh Xuân H1 và Nguyễn Huyền Tr đã có hành vi chia lẻ số ma túy do Đinh Ngọc H đưa cho, sau đó đã nhiều lần bán trái phép ma túy cho nhiều người khác. Tại phiên tòa, bị cáobị cáo H, bị cáo Bị cáo H1 thay đổi lời khai về số ma túy 0,573 gam Methamphetamine.bị cáo H và Bị cáo H1 cho rằngbị cáo H đưa ma túy cho Bị cáo H1 nhiều lần nhưng chỉ để Bị cáo H1 sử dụng,bị cáo H không biết Bị cáo H1 bán ma túy. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ cụ án đã xác định đượcbị cáo H đưa ma túy cho Bị cáo H1 nhiều lần và biết được Bị cáo H1 bán số ma túy màbị cáo H đưa, nênbị cáo H pHải chịu trách nhiệm đối với số mà túy 0,573 gam Methamphetamine thu giữ của Bị cáo H1 và Bị cáo Tr. Lời khai củabị cáo H và Bị cáo H1 tại phiên tòa về nội dụng này là không có căn cứ.
Tổng khối lượng chất ma túy Đinh Ngọc H pHải chịu trách nhiệm hình sự là 484,173 gam ma túy Methamphetamine và 462,741 gam ma túy Heroine. Trịnh Xuân H1 và Nguyễn Huyền Tr pHải chịu trách nhiệm hình sự đối với 0,573 gam ma túy Methamphetamine. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Đinh Ngọc H, Trịnh Xuân H1 và Nguyễn Huyền Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Hành vi của bị cáobị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự; Hành vi của bị cáo Bị cáo H1 và bị cáo Bị cáo Tr đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét tính chất của vụ án thì thấy: Các bị cáo có hành vi mua bán trái phép ma túy, nhưng hành vi của các bị cáo không có sự bàn bạc, thống nhất từ trước, không có sự câu kết chặt chẽ, nên đây là vụ án đồng phạm giản đơn.
Hành vi của bị cáobị cáo H thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật hình sự, hành vi của bị cáo Bị cáo H1 và bị cáo Bị cáo Tr thuộc trường hợp rất nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì lợi ích cá nhân đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy và gây mất trật tự an ninh xã hội. Ma túy là mối hiểm họa, làm xói mòn đạo đức và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Do vậy, việc xét xử nghiêm các bị cáo là cần thiết.
. Xét về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Bị cáobị cáo H có hành vi mua bán trái phép chất ma túy với số lượng lớn, bị cáo pHải chịu trách nhiệm độc lập với số lượng ma túy bị cáo mua bán và chịu trách nhiệm cùng Bị cáo H1 và Bị cáo Tr số ma túy 0,573 gam Methamphetamin, nên bị cáobị cáo H có vai trò chính trong vụ án. Đối với bị cáo Nguyễn Văn Bị cáo H1 khi đượcbị cáo H đưa ma túy thì tự ý chia nhỏ ra và bán cho các con nghiện lấy lời nên bị cáo có vai trò thứ hai. Đối với bị cáo Bị cáo Tr khi thấy Bị cáo H1 chia nhỏ và bán ma túy, Bị cáo Tr biết nhưng không can ngăn, còn tự nguyện chia nhỏ ma túy và bán ma túy cùng Bị cáo H1, do đó bị cáo Nguyễn Huyền Tr có vai trò giúp sức cho bị cáo Bị cáo H1 trong vụ án.
. Xét về nhân thân các bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Bị cáobị cáo H là người có nhân thân xấu, đã bị đưa ra xét xử và bị xử phạt hành chính nhiều lần mà vẫn tiếp tục phạm tội, lần phạm tội này thuộc vào trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Bị cáo Bị cáo H1 và bị cáo Bị cáo Tr có nhân tốt, chưa có tiền án, tiền sự gì.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáobị cáo H, bị cáo Bị cáo H1 và bị cáo Bị cáo Tr phạm tội nhưng tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáobị cáo H có bố mẹ đẻ là ông Đinh Văn L1, bà Nguyễn Thị L có giấy chứng nhận là công dân hỏa tuyến, bản thân bị cáobị cáo H được tặng giấy khen vì có thành tích trong công tác chữ thập đỏ. Mặc dù, đây không pHải là các bằng khen, huân huy chương nhưng cũng cần xem xét cho bị cáo được bị cáo H1 tình tiết giảm nhẹ. Bị cáo Bị cáo Tr đã đến cơ quan Công an đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáobị cáo H theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo Bị cáo Tr theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và bị cáo Bị cáo H1 theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Bị cáo Tr phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng các quy định tại Điều 54, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự để xem xét cân nhắc quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Bị cáo H1, bị cáo Bị cáo Tr không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS.
Bị cáo Đinh Ngọc H pHải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội từ 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội các bị cáo đã thực hiện, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo, cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và pHải buộc dụng hình phạt tù không thời hạn đối với bị cáobị cáo H. Đối với bị cáo Bị cáo H1 cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài và bị cáo Bị cáo Tr cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có đủ tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành con người biết tuân thủ pháp luật và là công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, việc áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáobị cáo H, bị cáo Bị cáo H1 cũng là cần thiết để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Bị cáo Bị cáo Tr là người dưới 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Bị cáo Tr.
. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự:
- 01 phong bì dán kín được niêm phong bên trong chứa 04 điện thoại hoàn lại sau giám định gồm có 03 điện thoại Samsung, 01 điện thoại Iphone: Cả 04 chiếc điện thoại nêu trên đều thu giữ của bị cáo Đinh Ngọc H, kết quả kiểm tra và giám định xác định được 01 chiếc điện thoại Samsung và 01 chiếc điện thoại Iphone bị cáobị cáo H sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước, còn lại 02 chiếc điện thoại Samsung không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáobị cáo H.
- 01 phong bì dán kín được niêm phong, bên trong chứa 03 USB và 01 đĩa DVD hoàn lại sau giám định; 01 phong bì dán kín được niêm phong, bên trong chứa 01 ổ cứng hoàn lại sau giám định; 01 phong bì dán kín được niêm phong bên trong chứa 01 USB hoàn lại sau giám định: Đây là các đồ vật chứa dữ liệu điện tử liên quan đến vụ án, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng. Do vậy, cần giao lại những đồ vật chứa dữ liệu điện tử nêu trên cho Cơ quan điều tra để lưu hồ sơ vụ án.
- 01 đầu thu camera nhãn hiệu @jhua TECHNOLOGY: Đầu thu camera này xác định là tài sản của bị cáobị cáo H, bị cáo lắp đặt để sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- 01 khẩu súng thể thao: Giao khẩu súng này cho Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh B xử lý theo quy định.
- 35 viên đạn thể thao: Số đạn này đã làm thủ tục nhập kho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh B nên cần tiếp tục giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh B xử lý theo quy định.
- 01 hộp bìa cát tông được niêm phong, 01 phong bì kí hiệu “QT2” niêm phong, 01 phong bì kí hiệu “KX1” niêm phong, 01 phong bì niêm phong kí hiệu “KT”, bên trong đều chứa ma túy hoàn lại sau giám định: Đây là những chất nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 02 túi nilon mầu trắng niêm phong, bên trong đựng toàn bộ các vỏ bao đựng vật chứng là ma túy hoàn lại sau giám định đường vân: Đây là những đồ vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 240.611.000 đồng gồm:
+ 232.590.000 đồng (7.090.000.000 đồng thu giữ củabị cáo H khi bị bắt quả tang, 225.500.000 đồng thu trong két sắt khi khám xét nơi ở củabị cáo H): Xác định đây là những khoản tiền của bị cáobị cáo H, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáobị cáo H nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm việc thi hành án.
+ 6.800.000 đồng thu giữ của bị cáo Bị cáo H1 khi khám xét hành chính: Xác định là tiền của bị cáo Bị cáo H1, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Bị cáo H1 nhưng tạm giữ để bảo đảm việc thi hành án.
+ 1.221.000 đồng thu giữ của bị cáo Bị cáo Tr khi khám xét hành chính: Xác định là tiền của Bị cáo Tr, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Bị cáo Tr.
- 01 xe ôtô nhãn hiệu BMW BKS 51F-584.92 kèm theo 01 giấy đăng ký xe ôtô số 130471 cấp ngày 14/01/2016, 01 giấy chứng nhận kiểm định số KD 0469817, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện số AD18/0271261. Anh Đinh Ngọc Th cho rằng chiếc xư là của anh do anh đưa tiền nhờbị cáo H mua hộ, nhưng anh Th không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh cho trình bày của mình.bị cáo H xác định là người đứng ra mua chiếc xe trên nên không có căn cứ xác định chiếc xe là thuộc quyền sở hữu vủa anh Th. Chiếc xe này dobị cáo H quản lý, sử dụng và dùng vào mục đích phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- 01 ví da màu đen có khóa bằng kim loại một mặt có chữ "VL LOUSVUITION PARIS"; 01 ví da màu nâu có khóa bằng kim loại: Đây là các tài sản của bị cáobị cáo H, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáobị cáo H.
- 01 túi nilon màu xanh có khuy bấm trên mặt túi có in chữ "VNI, BẢO HIỂM HÀNG KHÔNG", 01 bản phôtô giấy CMND mang tên Trần Thị Phượng: Đây là đồ vật, giấy tờ không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 két sắt có chữ "C.TY thiết bị vật tư ngân hàng ACB": Đây là tài sản của bị cáobị cáo H, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáobị cáo H.
- 01 màn hình tivi màu đen nhãn hiệu Chimei Innolux V236H1; 01 chiếc loa màu đen trên bề mặt loa có ghi chữ "Crown": Đây là tài sản của bị cáo Bị cáo H1, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Bị cáo H1.
- 01 thùng cát tông niêm phong có ký hiệu 01, trong đựng nhiều túi nilon, 01 hộp giấy đựng 08 chùm chìa khóa, 01 bật lửa ga, nhiều ống hút nhựa, 01 mẩu nến, 01 hộp hình trụ tròn trong đựng nhiều mẩu giấy bạc: Đây là những đồ vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 thùng cát tông niêm phong có ký hiệu 02, trong có 01 máy tính bảng nhãn hiệu Samsung đã hỏng, đây là những tài sản của bị cáo Bị cáo H1, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Bị cáo H1.
- 01 bộ đầu thu camera màu trắng nhãn hiệu Hikvision, 01 mắt camera nhãn hiệu @Jhua màu trắng, 01 dây dẫn điện màu trắng, 02 dây dẫn điện màu đen là tài sản của Bị cáo H1 dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám, có số imei 352051075006962; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu bạc, có số imei 354406069538479; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu bạc, có số imei 354440061585766: Đây là 03 chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo Bị cáo H1, kết quả kiểm tra xác định được có 02 chiếc Iphone gồm 01 chiếc màu xám, 01 chiếc màu bạc có số imei 354406069538479 Bị cáo H1 sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước. 01 điện thoại Iphone màu bạc còn lại có số imei 354440061585766 không lắp sim, kiểm tra không có thông tin liên quan đến hành vi phạm tội của Bị cáo H1 cần trả lại cho bị cáo Bị cáo H1.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen: Đây là điện thoại thu giữ của bị cáo Bị cáo Tr, kiểm tra điện thoại thấy có các thông tin liên quan đến hành vi phạm tội của Bị cáo Tr và Bị cáo H1 nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- 01 chiếc ví da cầm tay màu đen có chữ PRADA: Đây là tài sản của Bị cáo H1, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Bị cáo H1.
- 01 thùng cát tông bên trong chứa 10 hộp giấy bạc có nhãn hiệu RINGO aluminium foil 45cmx10ft và 11 túi ống hút nhựa nhiều màu có nhãn hiệu ARTISTIC STRAW: Đây là những đồ vật không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 biển số xe môtô BKS 29V1-230.86, 02 biển số xe ôtô BKS 30K-5688 (gồm 01 biển dài và 01 biển vuông): Đây là những tài sản không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Các vấn đề khác:
Đối với Hoàng Quyết Th4 và Đặng Thị L3khai có quen biếtbị cáo H, có liên lạc và gặpbị cáo H nhưbị cáo H khai, mục đích gặp là để mua bán hộp mỹ phẩm và miếng cao hổ chứ không pHải mua bán ma túy nhưbị cáo H khai. Nội dung file ghi âm giữabị cáo H, Th4 và L3không thể hiện việc trao đổi mua bán ma túy. Sau đó, Th4 và L3đã bỏ trốn khỏi địa phương và bị khởi tố, truy nã về tội “Lạm dung tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” trong một vụ án khác, Cơ quan điều tra chưa có cơ sở điều tra làm rõ nên đã tách phần tài liệu liên quan đến Th4 và Lan, tiếp tục điều tra làm rõ, xem xét xử lý sau. Phạm Ngọc Th1 khai có quen biếtbị cáo H vàbị cáo H đã đến phòng trọ của Bị cáo Th1 chơi, Bị cáo Th1 không thừa nhận đã mua bán ma túy vớibị cáo H nhưbị cáo H khai. Nội dung file ghi âm giữabị cáo H và Bị cáo Th1 không thể hiện việc trao đổi mua bán ma túy nên không có cơ sở để xử lý đối với Bị cáo Th1. Ngày 25/3/2020, Bị cáo Th1 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B khởi tố, tạm giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” trong một vụ án khác.
Ngày 29/8/2019, Phạm Thị Bé H5, sinh năm 2000, trú tại khu 6, phường Lái H5, thị xã Ngã Bẩy, tỉnh Hậu Giang (là bạn gái củabị cáo H) đi cùngbị cáo H đến khu vực nhà trọ của ông Lưu Hồng Tân nhưng H5 không biết bị cáo H đến đây để mua bán ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với H5 là có căn cứ. Ông Phan Thanh S, sinh năm 1964 (là chủ nhà nghỉ Thanh Sơn) và anh Phan Thanh Hải, sinh năm 1962 (là người quản lý nhà nghỉ Thanh Sơn), cả hai trú tại thôn Mai Hoàng, xã Phúc S, huyện Tân Y, tỉnh B đều không biếtbị cáo H có hành vi mua bán ma túy tại nhà nghỉ của mình nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.bị cáo H khai, trước khi bị bắt khoảng 01 tháng,bị cáo H mua 01 khẩu súng và 35 viên đạn tại khu vực cửa khẩu quốc tế Tân Thanh, tỉnh Lạng S mục đích để chơi, chưa sử dụng súng lần nào. Ngày 08/5/2020, Giám đốc Công an tỉnh B đã ra quyết định xử phạt hành chính, xử phạtbị cáo H 15 triệu đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép vũ khí thể thao” (BL118).
Đối với số tiền 37.100.000 đồng, 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 hộ cH5 đều mang tên Phạm Thị Bé H5 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo là của chị H5, không liên quan đến hành vi phạm tội củabị cáo H. Ngày 09/12/2019, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị H5 các đồ vật, tài sản trên (BL293-294).
Nguyễn Văn C là người có mặt trong phòng 205 khi cơ quan công an kiểm tra nhưng không có căn cứ xác định số ma túy thu giữ trong phòng là của Cường nên không có cơ sở xem xét xử lý. Anh Nguyễn Ngọc H4 và chị Trần Thị Thúy Ng là những người mua ma túy của Bị cáo H1 và Bị cáo Tr là để sử dụng. Quá trình điều tra không thu giữ được vật chứng, không xét nghiệm được tình trạng sử dụng ma túy nên chưa đủ cơ sở để kết luận anh H4, chị Ng đã sử dụng ma túy hay chưa để xem xét xử lý.
Đối với những người có liên quan khác trong vụ án, căn cứ lời khai của các bị cáo quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã xác minh làm rõ làm rõ được nhân thân của một số người như Giáp Văn Lên, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Xuân Võ, Ngô Văn Hoàng, Nguyễn Văn Sơn. Cơ quan điều tra đã triệu tập những người liên quan trên đến làm việc nhưng họ đều trốn tránh, không đến làm việc nên không có có căn cứ để xem xét xử lý.
Đối với 0,648 gam ma túy Methamphetamin thu giữ trong phòng 205 nhà nghỉ Thanh Sơn và 573,133 gam ma túy Methamphetamin thu giữ khi khám xét khẩn cấp nhà Trịnh Xuân H1: Quá trình điều tra các bị cáo khai không biết số ma túy đó của ai. Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra nhưng chưa đủ cơ sở kết luận số ma túy này là của ai. Ngày 29/6/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra Quyết định số 04 tách vụ án đối với số ma túy nêu trên để điều tra làm rõ ở vụ án riêng.
Biển kiểm soát 29V1-230.86 là của xe môtô nhãn hiệu Honda SH150i, người đứng tên đăng ký xe là anh Nguyễn Bá Th3, sinh năm 1987, trú tại thôn Quất Tỉnh, xã Quất Đ, huyện Thường T, TP Hà Nội. Anh Th2 khai đã bán xe môtô BKS 29V1-230.86 cho người khác, anh không nhớ đã bán cho ai. Người đứng tên đăng ký xe môtô BKS 90F1-9909 là Nguyễn Thị Hương ở tổ 02, phường Hai Bà Trưng, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không xác định được người có tên là Nguyễn Thị Hương có địa chỉ như trên. Xe môtô nhãn hiệu Dream gắn BKS 29V1-230.86 có số máy, số khung là xe môtô nhãn hiệu Honda Super Dream BKS 12K9-3089 của anh Lý Văn H5, sinh năm 1981, trú tại thôn Tồng Cút, xã Bắc Th, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng S. Anh H5 bị kẻ gian trộm cắp xe môtô và đã trình báo đến Công an huyện Chi L, tỉnh Lạng S. Ngày 29/4/2020, Cơ quan điều tra đã bàn giao xe môtô BKS 12K9-3089 cho Công an huyện Chi L, tỉnh Lạng S để xử lý. Các đồ vật, tài sản thu giữ của anh Nguyễn Văn C không liên quan đến hành vi phạm tội, ngày 19/02/2020, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh C 04 điện thoại di động, 02 ví da và 3.950.000 đồng.
. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016, các bị cáobị cáo H, Bị cáo H1, Bị cáo Tr pHải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố: Các bị cáo Đinh Ngọc H, Trịnh Xuân H1 và Nguyễn Huyền Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm h khoản 4, khoản 5 điều 251, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 39 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đinh Ngọc H tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 29/8/2019.
Phạt bổ sung bị cáobị cáo H 10.000.000đồng (Mười triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.
- Căn cứ điểm b khoản 2 điều 251, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trịnh Xuân H1 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/10/2019.
Phạt bổ sung bị cáo Bị cáo H1 5.000.000đồng (Năm triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.
- Căn cứ điểm b khoản 2 điều 251, Điều 17, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 54 Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Huyền Tr 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Nguyễn Huyền Tr.
[2] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 hộp bìa cát tông được niêm phong, 01 phong bì kí hiệu “QT2” niêm phong, 01 phong bì kí hiệu “KX1” niêm phong, 01 phong bì niêm phong kí hiệu “KT”, bên trong đều chứa ma túy hoàn lại sau giám định.
+ 02 túi nilon mầu trắng niêm phong, bên trong đựng toàn bộ các vỏ bao đựng vật chứng là ma túy hoàn lại sau giám định đường vân.
+ 01 túi nilon màu xanh có khuy bấm trên mặt túi có in chữ "VNI, BẢO HIỂM HÀNG KHÔNG", 01 bản phôtô giấy CMND mang tên Trần Thị Phượng.
+ 01 thùng cát tông niêm phong có ký hiệu 01, trong đựng nhiều túi nilon, 01 hộp giấy đựng 08 chùm chìa khóa, 01 bật lửa ga, nhiều ống hút nhựa, 01 mẩu nến, 01 hộp hình trụ tròn trong đựng nhiều mẩu giấy bạc.
+ 01 thùng cát tông bên trong chứa 10 hộp giấy bạc có nhãn hiệu RINGO aluminium foil 45cmx10ft và 11 túi ống hút nhựa nhiều màu có nhãn hiệu ARTISTIC STRAW.
- 01 biển số xe môtô BKS 29V1-230.86, 02 biển số xe ôtô BKS 30K-5688 (gồm 01 biển dài và 01 biển vuông).
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước:
+ 01 chiếc điện thoại Samsung, 01 chiếc điện thoại Iphone, 01 đầu thu camera nhãn hiệu @jhua TECHNOLOGY đều thu giữ của Đinh Ngọc H.
+ 01 xe ôtô nhãn hiệu BMW BKS 51F-584.92 kèm theo 01 giấy đăng ký xe ôtô số 130471 cấp ngày 14/01/2016, 01 giấy chứng nhận kiểm định số KD 0469817, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện số AD18/0271261 thu giữ của Đinh Ngọc H.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu bạc có số imei 354406069538479 thu giữ của Trịnh Xuân H1.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen thu giữ của Nguyễn Huyền Tr.
+ 01 bộ đầu thu camera màu trắng nhãn hiệu Hikvision, 01 mắt camera nhãn hiệu @Jhua màu trắng, 01 dây dẫn điện màu trắng, 02 dây dẫn điện màu đen.
- Trả lại cho bị cáo Đinh Ngọc H:
+ 02 chiếc điện thoại di động Samsung.
+ 232.590.000 đồng (7.090.000.000 đồng thu giữ củabị cáo H khi bị bắt quả tang, 225.500.000 đồng thu trong két sắt khi khám xét nơi ở củabị cáo H) nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm việc thi hành án.
+ 01 ví da màu đen có khóa bằng kim loại một mặt có chữ "VL LOUSVUITION PARIS".
+ 01 ví da màu nâu có khóa bằng kim loại.
+ 01 két sắt có chữ "C.TY thiết bị vật tư ngân hàng ACB"
- Trả lại cho bị cáo Trịnh Xuân H1:
+ 6.800.000 đồng thu giữ của Bị cáo H1 khi khám xét hành chính nhưng tạm giữ để bảo đảm việc thi hành án.
+ 01 màn hình tivi màu đen nhãn hiệu Chimei Innolux V236H1.
+ 01 chiếc loa màu đen trên bề mặt loa có ghi chữ "Crown".
+ 01 thùng cát tông niêm phong có ký hiệu 02, trong có 01 máy tính bảng nhãn hiệu Samsung đã hỏng.
+ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu bạc, có số imei 354440061585766.
+ 01 chiếc ví da cầm tay màu đen có chữ PRADA.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Huyền Tr:
+ 1.221.000 đồng thu giữ của Bị cáo Tr khi khám xét hành chính
- Giao lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B:
+ 01 phong bì dán kín được niêm phong, bên trong chứa 03 USB và 01 đĩa DVD hoàn lại sau giám định
+ 01 phong bì dán kín được niêm phong, bên trong chứa 01 ổ cứng hoàn lại sau giám định.
+ 01 phong bì dán kín được niêm phong bên trong chứa 01 USB hoàn lại sau giám định.
- Giao cho Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh B 01 khẩu súng thể thao để xử lý theo quy định.
- Giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh B 35 viên đạn thể thao để xử lý theo quy định.
(Những vật chứng trên có đặc điểm cụ thể như trong bản thống kê vật chứng đính kèm theo Quyết định chuyển vất chứng số 20/QĐ- VKS – P1 ngày 26/8/2020 của Viện kiểm sát nhân tỉnh B).
[3]. Về án phí: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; nghị quyết 326/NQ14-UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Đinh Ngọc H, Trịnh Xuân H1, Nguyễn Huyền Tr mỗi bị cáo pHải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
[5]. Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người pHải thi hành án dân sự có quyền thỏa bị cáo Th1 thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm.
| Nơi nhận: -VKSND cấp cao tại Hà Nội; - Sở tư pháp; - VKSND tỉnh B; - Công an tỉnh B; - Cơ quan thi hành án; - Bị cáo; - Lưu HS,THS. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Hà |