- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2020/HSST Ngày 05/6/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Ngọc C.
2. Ông Trần Đăng Thanh.
- Thư ký phiên toà: Ông Diệp Văn Vĩ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Ông Vương Văn Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2020 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm Cg khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2020/HSST ngày 20 tháng 05 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2020/QĐXXST - HS ngày 25 tháng 05 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễ n Văn L, sinh năm 1989. Tên gọi khác: Không
Sinh, trú quán: TC, QS, LNg, BG; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Đảng, Đ thể: Không; Con ông: Nguyễ n Văn L, sinh năm 1956 (đã chế t) và bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1960; Vợ , con: Chưa có; Anh chị em ruột: Có 3 anh, chị em , bị cáo là thứ ba; Tiề n án, tiề n sự : Không.
Nhân thân: Ngày 03/01/2014 L cùng đồng bọn có hành vi Mua bán trái phép chấ t ma tú y. Tại bản án hình sự số 27/2014/HSST ngà y 21/4/2014 của Tòa án nhân dân huyệ n Lụ c Ngạ n á p dụ ng khoả n 1 Điề u 194, điể m p, khoản 1 Điề u 46; Điề u 33 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999. Xử phạt Nguyễn Văn L 02 (hai) năm tù giam, thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y bắ t, tạm giữ, tạm giam 03/01/2014 và buộc L phải chịu 200.000đ á n phí hình sự sơ thẩm . Ngày 28/7/2014 Nguyễ n Văn L đã chấ p hà nh xong khoả n á n phí hình sự và ngày 03/11/2015 chấ p hà nh xong hì nh phạ t tù về đị a phương . Tính đến thời điểm phạm tội mới bị cáo đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắ t quả tang, tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 31/12/2019 (Có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
1/ Anh H Văn Q, sinh năm 1978.
- Trú tại: Khu TP, T.T Chũ, LNg, BG (Vắng mặt).
2/ Anh Trần Văn C, sinh năm 1970.
- Trú tại: Nhất Thành, Quý Sơn, Lục Ngạn, Bắc Giang (Vắng mặt).
* Người làm chứng:
1/ Anh Nguyễn Duy H, sinh năm 1996 (Vắng mặt).
- Trú tại: TN, TH, LNg, BG.
2/ Anh Ngô Trung Đ, sinh năm 1987 (Vắng mặt).
- Trú tại: GC, QS, LNg, BG.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do bản thân là người nghiện chất ma túy từ trướ c . Buổ i chiề u ngà y 30/12/2019, L mộ t mì nh đi từ nhà ra Quố c lộ 31 đó n xe Buý t đi lên thị trấ n Chũ huyệ n Lụ c Ngạ n , mục đích là để mua ma túy mang về sử dụng cho bản thân, khi đế n ngã tư đèn xanh - đèn đỏ thị trấ n Chũ , L xuố ng xe rồ i đi bộ và o nhà đố i tượ ng Hoà ng Văn Q, sinh năm 1978, trú tại khu Trần Phú, thị trấn Chũ, huyệ n Lục Ngạn để hỏi mua ma túy , khi đế n nhà Q thì thấy Q đang ở nhà mộ t mì nh , L hỏi và đưa cho Q số tiền 2.800.000đ (Hai triệ u tá m trăm nghì n đồ ng ), sau đó Q đưa cho Nguyễ n Văn L 01 (mộ t) túi ni lon mầu trắng, mộ t đầ u có rã nh khó a bằ ng nhự a viề n mầ u đỏ , bên trong tú i ni lon có chứ a 01 (mộ t) túi ni lon mầu trắng, mộ t đầ u có rã nh khóa bằng nhựa mầu trắng, bên trong có chứ a ma tú y đá ; 02 túi ni lon mầ u trắ ng, mộ t đầ u có rã nh khó a bằ ng nhự a, viề n mầ u xanh, bên trong mỗ i tú i chứ a 01 viên né n mầ u hồ ng đỏ , mộ t mặ t củ a mỗ i viên né n có chữ “ WY” là ma tú y (hay còn gọi là hồng phiến) sau khi mua đượ c số ma tú y trên , L đi bộ ra Ngã tư Truyề n hình thuộc thị trấn Chũ, huyệ n Lụ c Ngạ n. Tại đây L có gặp và đi nhờ xe anh Trần Văn C, sinh năm 1970 là người quen ở cù ng xã và đi nhờ về nhà . Khi L đang đi trên đườ ng cù ng anh C về đế n thôn Cầ u Cao, xã Quý Sơn thì bị bị lực lượng tuần tra Cg an huyện Lục Ngạn phá t hiệ n bắ t quả tang về hà nh vi tà ng trữ trá i phé p chấ t ma tú y.
Ngày 31/12/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Cg an huyện Lục Ngạn ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số tang vật đã thu giữ nghi là chất ma túy được niêm phong trong bì thư ký hiệu “QT”. Tại bản Kết luận giám định số 08/KTHS ngày 02/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Cg an tỉnh Bắc Giang kết luận: Tinh thể mầu trắng đựng trong 01 (mộ t) túi ni lon mầu trắng , mộ t đầ u có rã nh khóa bằng nhựa mầu trắng là chất ma túy Methamphetamine có khối lượng 4,990 gam; 02 (hai) viên né n hì nh tròn mầu hồng đỏ, trên mộ t mặ t củ a mỗ i viên né n đề u có chữ “WY” đự ng trong 02 (hai) túi ni lon mầu trắ ng mộ t đầ u củ a mỗ i tú i đều có rãnh khóa bằng nhựa , viề n mầ u xanh đề u là chất ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,180 gam. Tổng cộng là 5,170 gam chất ma túy Methamphetamine.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản kết luận điều tra và Bản cáo trạng đã truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đối với người liên quan vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và không có ý kiến, yêu cầu đề nghị gì.
Tại bản Cáo trạng số: 41/CT-VKS-HS ngày 20 tháng 05 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền Cg tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng đối với bị cáo và đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L như sau:
Áp dụng khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 06 năm tháng đến 07 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (31/12/2019).
* Về vật chứng: Áp ụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy chất ma túy Methamphetamine được đựng trong phong bì thư có ký hiệu QT.
* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Cg an huyện Lục Ngạn, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như vậy là hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người liên quan, người làm chứng: Tại phiên tòa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan H Văn Q, Trần Văn C và một số người làm chứng được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy người liên quan và người làm chứng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, người liên quan không có ý kiến yêu cầu gì, không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án.
Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vắng mặt theo qui định của pháp luật.
Nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Văn L khai vào khoảng 17 giờ ngày 30/12/2019 tại Quốc lộ 31 thuộ c đị a phậ n thôn Cầ u Cao , xã Quý Sơn, huyệ n Lụ c Ngạ n bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy . Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Cg an huyện Lục Ngạn , đã phát hiệ n bắ t quả tang và thu giữ 01 (mộ t) túi ni lon mầu trắng, mộ t đầ u có rã nh khó a bằ ng nhự a viề n mầ u đỏ , bên trong tú i ni lon có chứ a 01 túi ni lon mầu trắng, mộ t đầ u có rã nh khó a bằ ng nhự a mầ u trắ ng , bên trong có ch ứa tinh thể mầu trắng và 02 túi ni lon mầu trắ ng, mộ t đầ u có rãnh khó a bằ ng nhự a , viề n mầ u xanh, bên trong mỗ i tú i chứ a 01 viên né n mầ u hồ ng đỏ , mộ t mặ t của mỗi viên nén có chữ “ WY”. Tại bản kết luận giám định số 08/KTHS ngà y 02/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Cg an tỉnh Bắc Giang kết luận: Tinh thể mầ u trắ ng đự ng trong 01 (mộ t) túi ni lon mầu trắng , một đầu có rãnh khóa bằng nhựa màu trắng là chất ma túy Methamphetamine có khối lượng 4,990 gam; 02 (hai) viên né n hì nh trò n mầ u hồ ng đỏ , trên mộ t mặ t củ a mỗ i viên né n đề u có chữ “WY ” đự ng trong 02 (hai) túi ni lon mầu trắng một đầu của mỗi túi đều có rãnh khóa bằng nhựa
, viề n mầ u xanh đều là chất ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,180 gam. Tổng cộng là 5,170 gam chất ma túy Methamphetamine.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo, lời khai của người liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng của vụ án đã thu giữ đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xét về tính chất vụ án, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự tại địa phương, ma túy Methamphetamine là chất ma túy rất độc, gây nguy hại cho người sử dụng, ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của các thế hệ sau này, ảnh hưởng đến kinh tế của xã hội, là mối nguy cơ lây lan căn bệnh thế kỷ HIV-AIDS, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn trong xã hội, bị cáo là người có nhân thân xấu, bị Tòa án xử phạt về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, hiểu rõ tác hại của chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn thực vẫn cố ý phạm tội chứng tỏ bị cáo là người rất coi thường pháp luật. Tuy nhiên trong trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi xem xét toàn bộ nội dung vụ án HĐXX xét thấy cần phải có một mức hình phạt thật nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với Hoàng Văn Q, sinh năm 1978; trú tại: Khu Trầ n Phú - Thị trấn Chũ, huyệ n Lục Ngạn là người L khai bá n ma tú y đá cho L. Quá trình điều tra Cơ quan điề u tra đã tiế n hà nh lấy lời khai, cho L và Q đố i chấ t nhưng không có căn cứ xác định Q đã bán ma túy cho L nên không có căn cứ xem xé t xử lý đối với Hoàng Văn Q.
Đối với Trần Văn C, sinh năm 1970 trú quán tại thôn Nhất Thành, xã Quý Sơn, huyệ n Lụ c Ngạ n. Quá trình điều tra xác định , khi anh C cho L đi nhờ xe mô tô về xã Quý Sơn , Lục Ngạn. C không biế t L đang Tàng trữ trái phép chất ma túy trên ngườ i. Đến khi Cg an kiểm tra và bắt giữ L, thì anh C mớ i biế t L tàng trữ trái phép chất ma túy, nên cơ quan điề u tra không xem xé t xử lý đố i vớ i Trầ n Văn C là có căn cứ.
Về vật chứng: 01 (mộ t) xe mô tô nhã n hiệ u HONDA , loại xe Weve , biể n số 98M6- 9789, 01 (mộ t) điệ n thoạ i di độ ng nhã n hiệ u HONOR, mầ u và ng . Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô và điện thoại là tài sản thuộc sở hữu của anh Trần Văn C, không liên quan đế n vụ á n . Cơ quan điề u tra đã ra Quyế t đị nh xử lý vậ t chứng trả lại cho anh Trầ n Văn C là căn cứ nên không đặt ra xem xét.
Tịch thu tiêu hủy chất ma túy Methamphetamine được niêm phong trong phong bì thư dán kín ký hiệu “QT”.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo định của của pháp luật .
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 333 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Nguyễn Văn L 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (31/12/2019).
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy chất ma túy Methamphetamine được niêm phong trong phong bì thư dán kín ký hiệu “QT”.
Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết Cg khai.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Lục Ngạn; - Cg an huyện Lục Ngạn; - TAND Tỉnh Bắc Giang; - THADS huyện lục ngạn; - Người tham gia tố tụng; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - UBND xã Quý Sơn; - Sơ tư pháp; - Lưu hồ sơ. C¸c héi thÈm nh©n d©n | T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hiếu ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ Nguyễn Văn Hiếu |