vanban.org

Bản án 42/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 10/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Thành D tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TH NH PH PH C N
TỈNH VĨNH PH C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2020/HS-ST
Ngày 10 - 7 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HO XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TO N NH N D N TH NH PH PH C N, TỈNH VĨNH PH C

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Quốc Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thịnh, ông Đường Ngọc Đại

- Thư ký phiên toà: ng Trần Vi t Quang - Thư k của T a án nhân dân thị Phúc Yên, t nh V nh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh V tham gia phiên tòa: ng Nguyễn Văn Nam- Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2020, tại Hội trường Nhà văn hóa tổ dân phố Đ, phường T, thành phố P, t nh V ét ử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ l số 44/2020/TLST – HS ngày 16 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra ét ử số: 37/2020/QĐXXST – HS ngày 29 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Tri u Thành D, sinh năm 1979 tại V nh Phúc, nơi thường trú tổ 3, phường H, thành phố P, t nh V; Quốc tịch: Vi t Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa:12/12; Nghề nghi p: Lao động tự do; Đảng, Đoàn thể: Không; con ông Tri u Văn Tvà bà Nguyễn Thị Thanh B. Có vợ là Nguyễn Thị H (đ ly hôn) và 01 con.

Tiền án: Có 01 tiền án; Tại bản án hình sự sơ thẩm số 16/HSST ngày 29/01/2015 của TAND huy n S, thành phố Hi áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS ử phạt Tri u Thành D 05 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tu . Ngày 26/4/2018 D chấp hành ong hình phạt tù; ngày 29/01/2015 chấp hành ong án phí 200.000 đồng

Tiền sự: Không.

Quá trình hoạt động của bản thân:

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 45/HSST ngày 14/5/2001 của TAND huy n T, thành phố H ử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Chấp hành ong thời gian thử thách án treo ngày 14/11/2003; chấp hành xong án phí HSST 50.000 đồng ngày 08/11/2001, đ oá án tích.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 16/HSST ngày 29/01/2015 của TAND huy n S, thành phố Hi ử phạt Tri u Thành D 05 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tu . Ngày 26/4/2018 D chấp hành ong hình phạt tù; ngày 29/01/2015 chấp hành ong án phí 200.000 đồng, chưa oá án tích

Bị cáo bị áp dụng bi n pháp “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hi n đang tại ngoại tại địa phương, (có mặt)

Người làm chứng:

Ông Nguyễn Đăng T1; “vắng mặt”

Bà Trần Thị T2 “vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16h00 ngày 09/3/2020 tổ công tác Công an thành phố Ptiến hành kiểm tra hành chính tại ph ng 203 nhà ngh T thuộc tổ 10, phường T, thành phố P0, t nh V phát hi n bắt quả tang Tri u Thành D sinh năm 1979 trú tại tổ 3, phường H, thành phố P, t nh V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tu .

Trước đó, khoảng 16h00 ngày 08/3/2020, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Tri u Thành D đ đi n thoại cho bạn nghi n mới quen tên là Minh ở Tiền Phong, huy n Mê Linh, thành phố Hà Nội hỏi mua 1.000.000 đồng ma tu đá thì được Minh đồng . Hai bên hẹn gặp nhau ở khu vực hồ Tiền Phong thuộc Tiền Phong, huy n Mê Linh, thành phố Hà Nội để giao dịch mua bán ma tu . Sau đó D thuê e ta i (không nhớ h ng ta i nào) đến hồ Tiền Phong như đ hẹn. Tại đây D gặp và mua của Minh 01 túi nilon ma tu đá và 01 viên ma tu tổng hợp dạng ngựa với giá 1.000.000 đồng.

Sau khi mua được ma tu D thuê e ta i (không nhớ h ng ta i nào) đi đến nhà ngh T thuộc tổ 10, phường Trưng Trắc, thành phố Pđể thuê ph ng với mục đích để sử dụng ma tu . D gặp chị Trần Thị Tuyết – SN 1978 trú tại tổ 10 – Trưng Trắc – Plà chủ nhà ngh sắp ếp cho thuê ngh tại ph ng 203. Tại ph ng 203 D lấy bộ bình sử dụng ma tu đá chuẩn bị từ trước sau đó lấy túi nilon ma tu đá vừa mua được đổ một phần ma tu vào bộ bình sử dụng ma tu đá để sử dụng. Sau khi sử dụng ma tu ong, D dùng bật lửa đốt hàn kín túi nilon ma tu đá lại rồi cất túi nilon ma tu và viên ma tu tổng hợp vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc. Sau đó D treo, cất chiếc áo khoác vào trong tủ quần áo ở trong ph ng 203, rồi đi ngủ. Đến khoảng 16h00 ngày 09/3/2020 Tổ công tác Công an thành phố Pkiểm tra, phát hi n bắt quả tang D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tu như đ nêu trên.

Vật chứng đ thu giữ gồm:

- Thu giữ tại giường ngủ ph ng 203 một bộ bình sử dụng ma tu đá (01 cóng thuỷ tinh + 01 ống hút bằng nhựa + 01 chai nước + 01 bật lửa gas).

- Thu giữ tại trong túi áo khoác bên trái màu đen trắng, được treo trong tủ đựng quần áo ph ng 203 nhà ngh 01 túi nilon màu trắng chứa các tinh thể dạng đá. Được niêm phong theo quy định kí hi u A1 + 01 đoạn ống hút nước giải khát được hàn kín hai đầu, bên trong có 01 viên nén hình tr n màu hồng – được niêm phong theo quy định kí hi u A2.

- 01 chiếc đi n thoại di động nh n hi u Nokia 6300 màu vàng đ cũ + số tiền 250.000 đồng của D.

Ngày 10/3/2020 Cơ quan CSĐT Công an thành phố Ptiến hành thu giữ mẫu nước tiểu của Tri u Thành D vào 01 chai nhựa màu trắng được niêm phong theo quy định để phục vụ công tác giám định.

Tại bản kết luận giám định số 493 ngày 14/3/2020 của Ph ng kỹ thuật hình sự Công an t nh V kết luận:

1. Tinh thể dạng đá của mẫu kí hiệu A1 gửi giám định là ma tuý lẫn tạp chất, loại Methamphetamine. Khối lượng của mẫu gửi giám định là 1,7086g (một phảy bảy không tám sáu gam, không kể bao bì). Khối lượng Methamphetamine có trong 1,7086 gam mẫu là 1,1265 gam (một phảy một hai sáu lăm gam)

2. 01 (một) viên nén màu hồng của mẫu kí hiệu A2 gửi giám định là ma tuý lẫn tạp chất, Loại Methamphetamine. Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,0989gam (không phảy không chín tám chín gam, không kể bao bì.) Khối lượng Methamphetamine có trong 0,0989 gam mẫu là 0,0130 g (không phảy không một ba không gam).

Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong Danh mục II, TT323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ

Hoàn lại đối tượng sau giám định A1= 1,2093 gam và A2= 0,000 gam cùng toàn bộ bao gói.

Tại bản kết luận giám định số 492 ngày 14/3/2020 của Ph ng kỹ thuật hình sự Công an t nh V kết luận: “ Tìm thấy chất ma tuý Methamphetamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Triệu Thành D, sinh năm 1979 ở tổ 3 – phường Hùng Vương – T.P P– Vĩnh Phúc gửi đến giám định.

Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong Danh mục II, TT323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ”.

Hoàn lại mẫu sau giám định gồm 0,00ml mẫu cùng toàn bộ bao gói.

Tại cơ quan điều tra bị can D đ thành khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của bản thân như đ nêu trên.

Tại Cáo trạng số 40/CT - VKSPY ngày 16/6/2020, Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Ptruy tố Tri u Thành D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo D đ thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Vi n kiểm sát nhân dân Pđ truy tố.

Cơ quan điều tra đ tiến hành điều tra ác minh đối với người nam giới bán ma túy, D khai có tên là Minh ở Tiền Phong, huy n Mê Linh, thành phố Hà Nội nhưng chưa làm rõ được nên đang tiếp tục điều tra.

Tại phiên toà Kiểm sát viên luận tội và giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo Tri u Thành D; sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự, đề nghị Hội đồng ét ử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự: đề nghị ử phạt bị cáo D từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, kiến của kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng ét ử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phúc Yên, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hi n đều hợp pháp.

Tại phiên t a bị cáo Tri u Thành D thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận: Khoảng 16 giờ ngày 09 tháng 3 năm 2020 tại ph ng số 203 của nhà ngh T ở tổ 10, phường T, thành phố P0, t nh V đ bị lực lượng công an kiểm tra phát hi n và bắt quả tang có hành vi tàng trữ 1,8075g ma túy Methamphetamin với mục đích sử dụng cho bản thân. Xét lời khai của bị cáo tại phiên t a phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài li u chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận Tri u Thành D phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015. Như vậy, Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Ptruy tố bị cáo theo cáo trạng số 40/CT - VKSPY ngày 16/6/2020 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho hội, thể hi n tính coi thường pháp luật, đ gây mất trật tự trị an tại địa phương, âm phạm chính sách thống nhất quản l của Nhà nước về chất ma tu . Vì vậy, vi c đưa vụ án ét ử lưu động công khai là cần thiết và cần phải ử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và ph ng ngừa chung.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự của bị cáo thấy rằng: Tri u Thành D là đối tượng nghi n ma túy có nhân thân ấu, có một tiền án. Trước khi bị bắt, D đ hai lần bị đưa ra ét ử vào năm 2001 và 2015, trong đó mới chấp hành án ong ngày 26 tháng 4 năm 2018 đến nay chưa được óa án tích; ngoài hội D thể hi n là người ham chơi, lười lao động. Để có ma túy sử dụng D đ chủ động tìm nguồn ma túy mua về để tàng trữ phục vụ cho bản thân sử dụng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, D thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên được hưởng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015. Do D chưa được óa án tích đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 16/HSST ngày 29 tháng 01 năm 2015 của t a án nhân dân huy n S, thành phố Hi do vậy lần phạm tội này của D là tái phạm, D phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự 2015.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ ác minh của Công an thành phố Pcũng như kết quả thẩm vấn công khai tại phiên t a, ác định được Tri u Thành D không có nghề nghi p ổn định, gia đình kinh tế khó khăn, không có điều ki n kinh tế và tài sản có giá trị. Vì vậy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền là phù hợp.

Về nguồn gốc số ma túy D khai nhận đ mua của đối tượng có tên Minh tại khu vực Tiền Phong, huy n Mê Linh, thành phố Hà Nội ngày 08 tháng 3 năm 2020. Cơ quan công an đ ác minh nhưng chưa làm rõ do vậy cần tiếp tục điều tra, khi có căn cứ sẽ ử l sau.

Đối với chị Trần Thị Tuyết là chủ nhà ngh T là người trực tiếp cho D thuê phòng 203. Do vi phạm quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 11 và điểm a, khoản 4, Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ quy định ử phạt vi phạm hành chính trong l nh vực an ninh, trật tự, an toàn hội; ph ng, chống t nạn hội. Ngày 19/3/2020 Chủ tịch UBND thành phố Pđ ra quyết định ử phạt vi phạm hành chính đối Trần Thị T với mức phạt 8.250.000 đồng. Quá trình điều tra đ ác định được khi cho D thuê ph ng, chị Tuyết không biết D có mục đích để sử dụng ma túy nên không đề cập ử l về hình sự là có căn cứ.

Về vật chứng vụ án:

Đối với mẫu A1= 1,2093 gam; A2= 0,000; mẫu nước tiểu 0,00 ml cùng toàn bộ bao gói do cơ quan giám định hoàn lại + 01 bộ bình sử dụng ma tu đá cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Đối với 01 chiếc đi n thoại di động nh n hi u Nokia 6300 màu vàng thu giữ của D. Do D đ dùng để liên lạc để mua ma túy về tàng trữ do vậy cần tịch thu bán phát mại sung công quỹ Nhà nước

Đối với 01 chiếc áo khoác màu đen trắng đ cũ + số tiền 250.000 đồng đ thu của D do không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho D nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Cần buộc bị cáo Tri u Thành D phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QU ẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố Tri u Thành D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tu ”.

Xử phạt bị cáo Tri u Thành D 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu huỷ mẫu A1= 1,2093 gam; A2= 0,000; mẫu nước tiểu 0,00 ml cùng toàn bộ bao gói do cơ quan giám định hoàn lại, 01 bộ bình sử dụng ma tu đá.

Tịch thu bán phát mại sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc đi n thoại di động nh n hi u Nokia 6300 màu vàng thu giữ của D.

Trả lại Tri u Thành D 01 chiếc áo khoác màu đen trắng đ cũ và số tiền 250.000 đồng nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 19/6/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và l phí T a án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Tri u Thành D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu ét ử phúc thẩm. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Vi n kiểm sát nhân dân t nh V;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- Vi n kiểm sát nhân dân TP.P;

- Công an thành phố Phúc Yên;

- Chi cục Thi hành án DS TP.P;

- Cơ quan THA hình sự có thẩm quyền;

- Sở Tư pháp t nh V;

- Bị cáo;

- Lưu HS, VP.

Vũ Quốc Bình

HỘI THẨM NH N D N

THẨM PHÁN

````````CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Xuân Thịnh Đường Ngọc Đại

Vũ Quốc Bình Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Vi n kiểm sát nhân dân t nh V nh Phúc;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- Vi n kiểm sát nhân dân TP.Phúc Yên;

- Công an thành phố Phúc Yên;

- Chi cục Thi hành án DS TP.Phúc Yên;

- Trại Tạm giam Công an t nh V nh Phúc;

- Cơ quan THA hình sự có thẩm quyền;

- Sở Tư pháp t nh V nh Phúc;

- Bị cáo;

Vũ Quốc Bình

- Lưu HS, VP.

HỘI THẨM NH N D N

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN

TOÀ Nguyễn Xuân Thịnh Đường Ngọc Đại

Vũ Quốc Bình Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Vi n kiểm sát nhân dân t nh V nh

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phúc;

- Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên;

- Công an thành phố Phúc Yên;

- Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên;

- Trại tạm giam Công an t nh V nh

Vũ Quốc Bình Phúc;

- Cơ quan THA hình sự có thẩm quyền;

- Sở Tư pháp t nh Thái Nguyên;

- Bị cáo;

- Lưu HS, VP.

HỘI THẨM NH N D N

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN

TOÀ Nguyễn Đăng Nhu Đường Ngọc Đại

Vũ Quốc Bình

Cỡ chữ