- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án P - giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trần ĐP phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2020/HS-ST Ngày 16/7/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đình Dũng;
2. Bà Nguyễn Thị Anh Thư.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2020/HSST ngày 15/5/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2020/QĐXXST-HS ngày 27/6/2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Trần ĐP, sinh ngày 18/3/1994, tại Quảng Ngãi; nơi cư trú: Tổ 08 (trước đây là tổ 06), phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Lái xe; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Trần L và bà Trần Thị A; bị cáo có vợ, có 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Bùi K, sinh năm 1937 (chết).
Đại diện hợp pháp của bị hại:
- Bà Bùi Thị T, sinh năm 1969, địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố Q, tỉnh
Quảng Ngãi;
- Bà Bùi Thị Tr1, sinh năm 1971, địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh
Quảng Ngãi;
1. Bà Bùi Thị Tr2, sinh năm 1975, địa chỉ: Thôn C, xã T, thành phố Q, tỉnh
Quảng Ngãi;
2. Ông Bùi Văn H, sinh năm 1977, địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố Q,
tỉnh Quảng Ngãi;
Các bà T, Tr1, Tr2 ủy quyền cho ông Bùi Văn H; ông H có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ 50 phút, ngày 12/12/2019, ông Bùi K điều khiển xe đạp lưu thông tại làn đường phía đông của phần đường phía Đông (Làn đường tiếp giáp với mép đường phía Đông) thuộc đường dẫn phía Bắc cầu Thạch Bích theo hướng từ Nam ra Bắc. Cùng lúc này, Nguyễn Trần ĐP điều khiển xe ô tô tải chở xăng dầu, biển kiểm soát 43C – 193.65 lưu thông tại làn đường phía tây của phần đường phía Đông thuộc đường dẫn phía Bắc cầu Thạch Bích (Làn đường tiếp giáp với dải phân cách), lưu thông phía sau cùng chiều lấn qua làn phía đông, sau đó vượt lên bên trái xe đạp, dẫn đến mặt trước đầu bên phải cản trước xe ô tô 43C - 193.65 va chạm với thanh kim loại của phần đuôi yên ngồi phía sau xe đạp của ông K làm cho xe và người ông Bùi K ngã xuống đường. Hậu quả: Ông Bùi K chấn thương sọ não, sau đó chết tại bệnh viện.
Ngày 25/12/2019, Trung tâm Pháp y tỉnh Quảng Ngãi có bản kết luận số 96/TT, kết luận nguyên nhân chết của ông Bùi K: Chấn thương sọ não gây tụ máu nội sọ.
Ngày 07/01/2020, Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Quảng Ngãi có kết luận giám định số 31/KLGĐ-PC09 kết luận:
+ Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện là mặt trước đầu bên phải cản phía trước xe ô tô 43C-193.65 (vùng dấu vết móp méo biến dạng, trầy xước sơn) với thanh kim loại của phần đuôi yên ngồi phía sau xe đạp.
+ Vị trí va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe ô tô 43C-193.65 với xe đạp là khu vực phía Nam đầu dấu vết cày xước mặt đường, thuộc làn đường phía Đông.
+ Không có cơ sở để giám định vận tốc của xe ô tô 43C-193.65 và xe đạp tại thời điểm xảy ra tai nạn.
Bản cáo trạng số 31/CT-VKS, ngày 14/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi truy tố bị cáo Nguyễn Trần ĐP về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo P từ 18 đến 24 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng; về dân sự: bị hại không có yêu cầu nên đề nghị không xem xét; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trần ĐP khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Khoảng 05 giờ 50 phút, ngày 12/12/2019 bị cáo điều khiển xe ô tô tải chở xăng dầu lưu thông trên đường dẫn phía Bắc cầu Thạch Bích, bị cáo điều khiển xe lấn làn đường, vượt lên bên trái xe đạp do ông Bùi K đi phía trước, nhưng không quan sát kĩ phía trước và bên phải xe bị cáo, nên mặt trước đầu bên phải cản trước xe ô tô va chạm với phần đuôi yên ngồi phía sau xe đạp của ông K, làm cho xe và người ông Bùi K ngã xuống đường, hậu quả ông Bùi K chấn thương sọ não gây tụ máu nội sọ, sau đó chết tại bệnh viện. Lời khai nhận của bị cáo đúng như mô tả trong bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, hành vi của bị cáo vi phạm Điều 13, 14 của Luật Giao thông đường bộ về sử dụng làn đường và vượt xe gây chết người nên đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi tai nạn xảy ra bị cáo và gia đình thường xuyên đến thăm và hỗ trợ cho gia đình bị hại với số tiền 100.000.000 đồng; gia đình bị hại làm đơn xin bãi nại và không có yêu cầu khởi tố vụ án hình sự; tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn giao thông đường bộ.
Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, góp phần đấu tranh và phòng chống tội phạm.
Về dân sự: Bị cáo và gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- 01 xe tải bồn chở xăng dầu biển kiểm soát 43C - 193.65; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 059789; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô của Công ty Cổ phần Thương mại và Vận tải P, nên cơ quan điều tra đã trả lại xe và các giấy tờ xe cho Công ty là đúng quy định của pháp luật.
- 01 (Một) xe đạp màu đỏ, đen là xe đạp của ông Bùi K. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi đã trả xe đạp cho đại diện gia đình ông Bùi K là đúng quy định của pháp luật.
- 01 (Một) giấy phép lái xe hạng C số 510155004450, mang tên Nguyễn Trần ĐP, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi đã trả lại cho Nguyễn Trần ĐP là đúng quy định của pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi về tội danh và đề nghị cho bị cáo hưởng án treo có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Về mức hình phạt, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có phần nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.
Về án phí: Bị cáo P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trần ĐP phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần ĐP 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày 16/7/2020.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Q giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
3. Buộc bị cáo Nguyễn Trần ĐP phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND TP Quảng Ngãi; - CQCSĐT Công an TP Quảng Ngãi; - Bộ phận HSNV Công an thành phố Quảng Ngãi; - CCTHADS TP Quảng Ngãi; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Hồng Ánh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |