vanban.org

Bản án 42/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 6, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 24/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Liên Tố N phạm tội: «Tàng trữ trái phép chất ma túy».

Xử phạt bị cáo Liên Tố N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/3/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Liên Tố N phạm tội: «Tàng trữ trái phép chất ma túy». - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Liên Tố N phạm tội: «Tàng trữ trái phép chất ma túy».
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2020/HS-ST
Ngày: 24/7/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Loan.

Bà Phan Thị Hồng Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thư Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Nhẫm - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2020/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Liên Tố N; Sinh ngày: 05/4/1989; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 45/88/20D đường BT, Phường G, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: 80/10/9 đường THĐ, Phường N, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Liên Bá L và bà: Trần Cẩm L; Có chồng: Không và con: Không; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giam ngày 17/3/2020.

(có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 17/3/2020, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 6 kết hợp với Công an Phường 14, Quận 6 kiểm tra hành chính nhà của Liên Tố N tại địa chỉ 80/10/9 đường THĐ, Phường N, Quận F và đã thu giữ của N 01 gói nylon chứa tinh thể không màu tại phía sau cửa nhà vệ sinh tầng trệt, 03 gói nylon chứa tinh thể không màu để trong ngăn kéo dưới tủ gỗ màu trắng.

Ngoài ra, Công an còn tạm giữ 05 đối tượng có mặt tại chỗ là Mai Thị L1, Võ Văn T, Trương Văn T1, Huỳnh Tấn T3, Nguyễn Hoàng A và thu giữ của Nguyễn Hoàng A 01 túi nylon màu xám, bên trong có: 01 gói nylon, bên trong có 11 gói nylon chứa tinh thể không màu; 01 túi màu đen đựng 02 lọ thủy tinh, bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 gói nylon chứa tinh thể không màu giấu trên đầu tủ lạnh để ở tầng trệt.

Tiến hành kiểm tra xe ôtô biển số 51F-911.42 của Nguyễn Hoàng A, Công an thu giữ ở phía sau hàng ghế cuối 01 túi nhựa màu đen (dùng chứa đồ bơm bánh xe ôtô), bên trong có 01 túi nylon (bên ngoài có ghi chữ A Taste Of Quality) đựng 01 hộp giấy, bên trong hộp giấy có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (Nguyễn Hoàng A khai túi nhựa này là của Cu Lì).

Tiến hành khám xét nhà của Liên Tố N tại lầu 1, Công an đã thu giữ trong ngăn kéo dưới cùng của tủ nhựa đựng quần áo 01 túi nylon màu đen, bên trong có: 01 gói nylon chứa 53 viên nén màu xanh; 01 gói nylon chứa 75 viên nén màu nâu hình đầu lâu; 01 gói nylon chứa 08 viên nén tròn màu cam và 02 viên nén màu nâu hình đầu lâu; 01 gói nylon chứa 05 viên nén tròn màu cam, 02 viên nén màu hồng, 02 viên nén màu xanh, 01 viên nén màu nâu, 02 mảnh vụn viên nén màu cam; 01 gói nylon chứa chất bột màu hồng; 01 gói nylon chứa các mảnh vụn màu hồng; 01 cân điện tử; thu giữ trong ngăn kéo kế cuối của tủ nhựa đựng quần áo 01 hộp kim loại màu vàng, bên trong có: 05 gói nylon chứa tinh thể không màu, 01 gói nylon chứa chất dẻo màu vàng.

Tại Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Liên Tố N khai: Gói ma túy đá mà Công an thu giữ phía sau cửa nhà vệ sinh tầng trệt là của N lén lấy của Nguyễn Hoàng A (người chung sống như vợ chồng với Liên Tố N) cách ngày bị bắt khoảng hai, ba ngày để dành sử dụng. Riêng 03 gói nylon chứa tinh thể không màu là N nhặt được đem về để trong ngăn kéo dưới tủ gỗ màu trắng. Còn các gói ma túy khác mà Công an thu giữ trong nhà N thì N không biết của ai (theo N có thể là của Nguyễn Hoàng A và của Mai Thị L1).

Nguyễn Hoàng A khai: Số ma túy mà Công an thu giữ trong 01 túi nylon màu xám (để trên đầu tủ lạnh để ở tầng trệt), bên trong có 11 gói nylon chứa tinh thể không màu là của Hoàng Anh. Còn 01 túi màu đen đựng 02 lọ thủy tinh, bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 gói nylon chứa tinh thể không màu và 01 túi nhựa màu đen (dùng chứa đồ bơm bánh xe ôtô), bên trong có 01 túi nylon (bên ngoài có ghi chữ A Taste Of Quality) đựng 01 hộp giấy, bên trong hộp giấy có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu thu giữ trên xe ôtô biển số 51F-911.42 là của một người bạn tên Cu Lì (không rõ lai lịch) gửi. Riêng số ma túy Công an thu giữ tại lầu 1 là của ai Hoàng Anh không biết.

Mai Thị L1 không thừa nhận số ma túy Công an thu giữ tại lầu 1 nhà số 80/10/9 đường THĐ, Phường N, Quận F là của Loan và Loan khai không biết số ma túy đó là của ai.

Tại Kết luận giám định số: 490/KLGĐ-H ngày 24 tháng 3 năm 2020, Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận:

* 03 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Minh Tấn (Điều tra viên), Phạm Nguyễn Đức Huy (người chứng kiến), Nguyễn Hoàng A và hình dấu Công an Phường 14, Quận 6. Bên trong có:

- Gói 1: Tinh thể không màu trong 11 gói nylon cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 50,1603g (năm không phẩy một sáu không ba gam), loại Methamphetamine.

- Gói 2:

+ Bột màu trắng trong 02 lọ thủy tinh cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,3782g (không phẩy ba bảy tám hai gam), loại Ketamine.

+ Tinh thể không màu trong 01 gói nylon cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,2252g (một phẩy hai hai năm hai gam), loại Methamphetamine.

- Gói 3: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon cần giám định, có khối lượng 172,6002g (một bảy hai phẩy sáu không không hai gam), không tìm thấy ma túy.

* 04 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Minh Tấn (Điều tra viên), Nguyễn Long (người chứng kiến), Liên Tố N và hình dấu Công an Phường 14, Quận 6. Bên trong có:

- Gói 4: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,8812g (không phẩy tám tám một hai gam), loại Methamphetamine.

- Gói 5: Tinh thể không màu trong 03 gói nylon cần giám định, có khối lượng 2,4060g (hai phẩy bốn không sáu không gam), không tìm thấy ma túy.

- Gói 6:

+ 53 viên nén màu xanh trong 01 gói nylon cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 21,7012g (hai một phẩy bảy không một hai gam), loại Methamphetamine, Ketamine, Codeine.

+ 75 viên nén màu nâu hình đầu lâu trong 01 gói nylon cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 34,5309g (ba bốn phẩy năm ba không chín gam), loại Methamphetamine, Ketamine, Codeine.

+ 01 gói nylon chứa:

. 08 viên nén hình tròn màu cam cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 2,6602g (hai phẩy sáu sáu không hai gam), loại Methamphetamine, Ketamine.

. 02 viên nén màu nâu hình đầu lâu cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,9328g (không phẩy chín ba hai tám gam), loại Methamphetamine, Ketamine, Codeine.

+ 01 gói nylon chứa:

. 01 viên nén màu hồng cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3680g (không phẩy ba sáu tám không gam), loại Methamphetamine, Ketamine, Codeine.

. 01 viên nén màu hồng cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4660g (không phẩy bốn sáu sáu không gam), loại Methamphetamine, Ketamine, Codeine.

. 05 viên nén hình tròn màu cam cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,6927g (một phẩy sáu chín hai bảy gam), loại Methamphetamine, Ketamine.

. 02 viên nén màu xanh cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,8440g (không phẩy tám bốn bốn không gam), loại Methamphetamine, Ketamine, Codeine.

. 02 mảnh vụn viên nén màu cam cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,1881g (không phẩy một tám tám một gam), loại Ketamine.

. 01 viên nén màu nâu cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4711g (không phẩy bốn bảy một một gam), loại Methamphetamine, Ketamine, Codeine.

+ Bột màu hồng trong 01 gói nylon cần giám định, có khối lượng 2,6431g (hai phẩy sáu bốn ba một gam), có Delta-9-tetrahydrocanabinol.

+ Các mảnh vụn màu hồng trong 01 gói nylon cần giám định có khối lượng 2,2460g (hai phẩy hai bốn sáu không gam), có Delta-9-tetrahydrocanabinol.

- Gói 7:

. Tinh thể không màu trong 05 gói nylon cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 72,9721g (bảy hai phẩy chín bảy hai một gam), loại Methamphetamine.

. Chất dẻo màu vàng trong 01 gói nylon cần giám định, có khối lượng 3,4355g (ba phẩy bốn ba năm năm gam), có Delta-9-tetrahydrocanabinol.

Ngày 20 tháng 3 năm 2020, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra theo thẩm quyền (Văn bản số: 577/CV).

Sau khi nghiên cứu hồ sơ, ngày 25 tháng 3 năm 2020, Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Nguyễn Hoàng A có hành vi cất giữ 51,3855 gam Methamphetamine và 0,3782 gam Ketamine; Liên Tố N có hành vi cất giữ 0,8812 gam Methamphetamine, nên vụ án không thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, do đó chuyển trả toàn bộ hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra Công an Quận 6 để điều tra theo thẩm quyền. Còn 72,9721 gam Methamphetamine thu giữ trong ngăn kéo cuối tủ nhựa đựng quần áo tại nhà Liên Tố N do Cơ quan điều tra Công an Quận 6 chưa chứng minh được là của ai (trong khi N khai số ma túy này là của Mai Thị L1, nhưng hiện tại Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đã giải tỏa cho Loan về). Do đó, Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Cơ quan điều tra Công an Quận 6 tiếp tục điều tra, làm rõ trách nhiệm của Mai Thị L1, Nguyễn Hoàng A, Liên Tố N về nguồn gốc số ma túy này (Văn bản số: 364/PC04-Đ5).

Ngày 19 tháng 5 năm 2020, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 có văn bản đề nghị Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh hỗ trợ thu thập dấu vết đường vân tay trên vật chứng thu giữ tại nhà Liên Tố N vào ngày 17/3/2020 (Văn bản số: 1283/CQCSĐT-MT).

Ngày 28 tháng 5 năm 2020, Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh có văn bản trả lời về việc hỗ trợ thu thập dấu vết vân tay trên vật chứng thu giữ tại nhà Liên Tố N là không thể thực hiện được. Vì trong quá trình tiếp nhận mở niêm phong và đóng gói niêm phong các cán bộ giao, nhận và thực hiện giám định đã tiếp xúc trực tiếp, nhiều lần với các bao bì gửi đến giám định, do đó các dấu vết đường vân (nếu có) đã bị chồng chéo, lẫn lộn không đủ yếu tố để truy nguyên đồng nhất (Văn bản số: 449/PC09-Đ4).

Ngày 25 tháng 3 năm 2020, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 ra quyết định khởi tố vụ án hình sự (Quyết định số: 82-QĐ/CQĐT-MT); khởi tố bị can đối với Liên Tố N về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» (Quyết định số: 44-QĐ/CQĐT-MT) và Lệnh tạm giam đối với Liên Tố N (Lệnh số: 41-LTG/ CQĐT-MT).

Đối với Nguyễn Hoàng A, ngày 25 tháng 3 năm 2020 Cơ quan điều tra Công an Quận 6 ra quyết định khởi tố vụ án hình sự (Quyết định số: 81-QĐ/CQĐT-MT); khởi tố bị can đối với Nguyễn Hoàng A về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» (Quyết định số: 43-QĐ/CQĐT-MT) và Lệnh tạm giam đối với Nguyễn Hoàng A (Lệnh số: 40-LTG/ CQĐT-MT) bằng vụ án khác.

Đối với Mai Thị L1, Võ Văn T, Trương Văn T1, Huỳnh Tấn T3, Cơ quan điều tra không chứng minh được những người này có liên quan đến hành vi phạm tội của Liên Tố N, Nguyễn Hoàng A nên không có căn cứ xử lý.

Tại Cáo trạng số: 38/CT-VKS-Q6 ngày 25 tháng 6 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Liên Tố N về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Liên Tố N khai nhận chính bị cáo đã thực hiện hành vi cất giữ 01 gói ma túy đá để sử dụng và bị Công an phát hiện thu giữ phía sau cửa nhà vệ sinh tầng trệt tại nhà số 80/10/9 đường THĐ, Phường N, Quận F vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 17/3/2020 như nội dung bản cáo trạng nêu. Ngoài gói ma túy thu giữ phía sau cửa nhà vệ sinh tầng trệt, bị cáo thừa nhận là của bị cáo, số ma túy còn lại thu giữ tại lầu 1 nhà số 80/10/9 đường THĐ, Phường N, Quận F, bị cáo không thừa nhận là của bị cáo mà khai là của Mai Thị L1.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Liên Tố N như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Phạt bị cáo Liên Tố N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» theo điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Không phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có khả năng thi hành.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 02 gói đã được niêm phong, bên ngoài ghi vụ số: 490/20 Q6, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Nguyễn Thanh Điềm và Điều tra viên Nguyễn Minh Tấn. Bên trong có: Tinh thể không màu có khối lượng 0,6764 gam (ký hiệu gói 4), tinh thể không màu có khối lượng 2,0242 gam (ký hiệu gói 5); 01 túi nylon màu đen (thu giữ trong nhà vệ sinh); 01 túi nylon màu đen (thu giữ trong ngăn kéo cuối tủ nhựa đựng quần áo); 01 cân điện tử; 01 hộp kim loại màu vàng; 01 chiếc điện thoại di động màu đen (bị bể màn hình) đã được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Minh Tấn (Điều tra viên) và Liên Tố N (bị cáo khai chiếc điện thoại bị hư không còn sử dụng được).

Riêng 02 gói đã được niêm phong, bên ngoài ghi vụ số: 490/20 Q6, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Nguyễn Thanh Điềm và Điều tra viên Nguyễn Minh Tấn. Bên trong có: 50 viên nén màu xanh có khối lượng 20,4490 gam; 70 viên nén màu nâu hình đầu lâu có khối lượng 32,2314 gam; 06 viên nén hình tròn màu cam có khối lượng 1,7997 gam; 01 viên nén màu nâu hình đầu lâu có khối lượng 0,4732 gam; 03 viên nén hình tròn màu cam có khối lượng 0,9990 gam; 01 viên nén màu cam có khối lượng 0,4203 gam; bột màu hồng có khối lượng 1,6496 gam; phần còn lại của mảnh vụn màu hồng có khối lượng 0,9852 gam (ký hiệu gói 6); Tinh thể không màu có khối lượng 71,6298 gam (ký hiệu gói 7), không phải là vật chứng trong vụ án này, nên đề nghị giao Công an Quận 6 để tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.

Lời nói sau cùng, bị cáo Liên Tố N nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình thu thập chứng cứ của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên trong quá trình điều tra, khám xét và thu giữ vật chứng đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, không thực hiện đầy đủ quy trình kỹ thuật để thu giữ dấu vân tay, dấu vết đường vân trên bề mặt các gói ma túy, do đó các dấu vết đường vân (nếu có) đã bị chồng chéo, lẫn lộn không đủ yếu tố để truy nguyên đồng nhất, nên không đủ căn cứ để đấu tranh làm rõ nguồn gốc khối lượng ma túy thu giữ tại lầu 1 nhà số 80/10/9 đường THĐ, Phường N, Quận F dẫn đến việc bỏ lọt hành vi phạm tội. Mặc dù Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 đã có văn bản kiến nghị khắc phục những sai phạm trên, nhưng Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên cần lưu ý rút kinh nghiệm chung nhằm tránh những sai sót làm ảnh hưởng đến việc điều tra, truy tố, xét xử cũng như bỏ lọt người phạm tội, bỏ lọt hành vi phạm tội.

Đối chiếu lời khai của bị cáo Liên Tố N tại phiên tòa với Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Kết luận giám định; lời khai của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Liên Tố N đã cất giữ 0,8812 gam ma túy ở thể rắn (loại Methamphetamine) mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy khác (bị cáo khai cất giữ để sử dụng), là phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đúng như Viện kiểm sát đã truy tố.

Hành vi của bị cáo Liên Tố N không những đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về việc cất giữ chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an chung.

Bị cáo Liên Tố N là người đã trưởng thành, hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức được hành vi cũng như hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra, nhưng để thỏa mãn lối sống không lành mạnh và nhất là xem thường pháp luật, nên bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Liên Tố N là nghiêm trọng, bởi ma túy nói chung và Methamphetamine nói riêng là chất gây nghiện độc hại, việc sử dụng ma túy đã gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe, làm mất khả năng lao động, học tập của chính người sử dụng và đây cũng chính là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, do đó Hội đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu (chưa có tiền án - tiền sự); bản thân đang bệnh nặng (nhiễm HIV/AIDS - dẫn đến bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng), nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì bị cáo Liên Tố N còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo phạm tội không vụ lợi, là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế còn khó khăn, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Việc xử lý vật chứng: 02 gói đã được niêm phong, bên ngoài ghi vụ số: 490/20 Q6, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Nguyễn Thanh Điềm và Điều tra viên Nguyễn Minh Tấn. Bên trong có: Tinh thể không màu có khối lượng 0,6764 gam (ký hiệu gói 4), tinh thể không màu có khối lượng 2,0242 gam (ký hiệu gói 5); 01 túi nylon màu đen (thu giữ trong nhà vệ sinh); 01 túi nylon màu đen (thu giữ trong ngăn kéo cuối tủ nhựa đựng quần áo); 01 cân điện tử; 01 hộp kim loại màu vàng, là vật cấm lưu hành, vật không có giá trị hoặc không sử dụng được, nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động màu đen (bị bể màn hình) đã được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Minh Tấn (Điều tra viên) và Liên Tố N thu giữ của bị cáo Liên Tố N, là tài sản hợp pháp của bị cáo. Quá trình điều tra không đủ căn cứ xác định bị cáo đã hoặc sẽ dùng chiếc điện thoại này vào việc phạm tội, nên Hội đồng xét xử trả lại bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Còn 02 gói đã được niêm phong, bên ngoài ghi vụ số: 490/20 Q6, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Nguyễn Thanh Điềm và Điều tra viên Nguyễn Minh Tấn. Bên trong có: 50 viên nén màu xanh có khối lượng 20,4490 gam; 70 viên nén màu nâu hình đầu lâu có khối lượng 32,2314 gam; 06 viên nén hình tròn màu cam có khối lượng 1,7997 gam; 01 viên nén màu nâu hình đầu lâu có khối lượng 0,4732 gam; 03 viên nén hình tròn màu cam có khối lượng 0,9990 gam; 01 viên nén màu cam có khối lượng 0,4203 gam; bột màu hồng có khối lượng 1,6496 gam; phần còn lại của mảnh vụn màu hồng có khối lượng 0,9852 gam (ký hiệu gói 6); Tinh thể không màu có khối lượng 71,6298 gam (ký hiệu gói 7). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị giao lại cho Công an Quận 6 để tiếp tục điều tra, làm rõ nguồn gốc số ma túy này và xử lý sau theo quy định của pháp luật. Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

(theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 44/PNK ngày 30 tháng 3 năm 2020 của Công an Quận 6; Quyết định chuyển vật chứng số: 15/QĐ-VKS-Q6 ngày 25 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 và Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02 tháng 7 năm 2020 của Công an Quận 6)

Đối với Nguyễn Hoàng A, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đã khởi tố trong vụ án khác, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Đối với Mai Thị L1, Võ Văn T, Trương Văn T1, Huỳnh Tấn T3, Viện kiểm sát xác định chưa đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Bị cáo Liên Tố N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Liên Tố N phạm tội: «Tàng trữ trái phép chất ma túy».

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Liên Tố N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 17/3/2020.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu, tiêu hủy: 02 (hai) gói đã được niêm phong, bên ngoài ghi vụ số: 490/20 Q6, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Nguyễn Thanh Điềm và Điều tra viên Nguyễn Minh Tấn. Bên trong có: Tinh thể không màu có khối lượng 0,6764 gam (ký hiệu gói 4), tinh thể không màu có khối lượng 2,0242 gam (ký hiệu gói 5); 01 (một) túi nylon màu đen (thu giữ trong nhà vệ sinh); 01 (một) túi nylon màu đen (thu giữ trong ngăn kéo cuối tủ nhựa đựng quần áo); 01 (một) cân điện tử; 01 (một) hộp kim loại màu vàng.

- Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Trả lại bị cáo Liên Tố N 01 (một) chiếc điện thoại di động màu đen (bị bể màn hình) đã được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Minh Tấn (Điều tra viên) và Liên Tố N.

Giao lại Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh 02 (hai) gói đã được niêm phong, bên ngoài ghi vụ số: 490/20 Q6, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Nguyễn Thanh Điềm và Điều tra viên Nguyễn Minh Tấn. Bên trong có: 50 (năm mươi) viên nén màu xanh có khối lượng 20,4490 gam; 70 (bảy mươi) viên nén màu nâu hình đầu lâu có khối lượng 32,2314 gam; 06 (sáu) viên nén hình tròn màu cam có khối lượng 1,7997 gam; 01 (một) viên nén màu nâu hình đầu lâu có khối lượng 0,4732 gam; 03 (ba) viên nén hình tròn màu cam có khối lượng 0,9990 gam; 01 (một) viên nén màu cam có khối lượng 0,4203 gam; bột màu hồng có khối lượng 1,6496 gam; phần còn lại của mảnh vụn màu hồng có khối lượng 0,9852 gam (ký hiệu gói 6); Tinh thể không màu có khối lượng 71,6298 gam (ký hiệu gói 7) để tiếp tục điều tra, làm rõ nguồn gốc số ma túy này và xử lý sau.

- Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Liên Tố N phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Bị cáo Liên Tố N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ