vanban.org

Bản án 42/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 22/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong số 87/2020/PC09 là ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao bì của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành ph…

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Đức C phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong số 87/2020/PC09 là ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao bì của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành ph…
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2020/HS-ST
Ngày 22-6-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Thu Quỳnh

Bà Lý Thị Thiên Nga

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Đoàn Quảng Hưng- Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2020/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2020, và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 72/TB-TA ngày 15 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức C, sinh ngày 16 tháng 12 năm 1988 tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: Đường L, phường V, quận N, thành phố H; nơi tạm trú: Đường Đ, phường C, quận N, thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thu H và có 01 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Tại Bản án số 100/2008/HSST ngày 27/8/2008 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” (đã được xóa án tích); bị bắt tạm giữ ngày 24/02/2020; tạm giam ngày 25/02/2020; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 24/02/2020, tại khu vực chung cư A9 Thái Phiên, phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Công an phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng kiểm tra bắt quả tang Nguyễn Đức C có hành vi tàng trữ chất ma tuý, thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của C 01 gói nilon, kích thước 02x03cm, bên trong chứa tinh thể màu là chất ma túy. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong cùng vật chứng. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Đức C ở đường Đ, phường C, quận N, thành phố H không thu giữ được vật chứng liên quan đến ma túy.

Quá trình điều tra Nguyễn Đức C, khai nhận: Do buồn chán chuyện gia đình nên C thường mua ma túy về sử dụng. Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 24/02/2020, C đi bộ một mình đến khu vực đầu ngõ 258 đường Đà Nẵng, phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy đá với giá 400.000 đồng. Mua xong C cất giấu ma túy trong túi quần phía trước bên phải đang mặc đi tìm nơi sử dụng, khi đến khu vực chung cư A9 Thái Phiên, phường Cầu Tre thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang cùng vật chứng.

Kết luận giám định số 87/KLGĐ ngày 25/02/2020 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Mẫu tinh thể thu giữ của Nguyễn Đức C gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,44 gam là loại Methamphentamine”.

Tại Bản Cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 21/5/2020 Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Đức C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo Nguyễn Đức C khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với khối lượng 0,44 gam là loại Methamphentamine”.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố và luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Đức C với mức án từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc, không có thu nhập và tài sản nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong số 87/2020/PC09 là ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao bì của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng; bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Sau khi kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt, tạo điều kiện để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức C không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Đức C tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, khẳng định: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 24/02/2020, tại khu vực chung cư A9 Thái Phiên, phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Đức Chiến có hành vi cất giấu bất hợp pháp chất ma túy, việc cất giữ chất ma túy không nhằm mục đích mua bán mà tìm nơi sử dụng cho bản thân. Tại Bản Kết luận giám định số 87/KLGĐ ngày 25/02/2020 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Chất bột thu giữ của Nguyễn Đức C, có khối lượng 0,44 gam là loại “Methamphentamine”. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Đức C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đức C về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân bị cáo:

Bị cáo có 01 tiền án năm 2008, tuy đã được xóa án nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

Ngoài hình phạt chính, bị cáo Nguyễn Đức C còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo không có công việc, không có thu nhập và tài sản nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

- Về việc xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong số 87/2020/PC09 là ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao bì của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng.

Trong vụ án này, đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Đức C, hiện chưa xác minh được lai lịch địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

- Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Đức C phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

Bị cáo Nguyễn Đức C được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Đức C 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 24/02/2020.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong số 87/2020/PC09 là ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao bì của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Đức C phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Nguyễn Đức C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ