- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy».
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ TP. HÀ NỘI -------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2020/HS - ST Ngày: 06/05/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Các Hội thẩm nhân dân :
1. Ông Đinh Quang Huấn
2. Ông Trương Văn Minh
Thư ký phiên tòa:
Bà Huỳnh Phương Minh - Thư ký Tòa án nhân
dânhuyện Thanh Trì, TP Hà Nội Đại diện VKSND huyện Thanh Trì - TP Hà Nội tham gia phiên tòa:
Ông Tô Xuân Tùng - Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 05năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì - thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2020/HS-ST ngày 24/3/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2020/QĐXXST - HS ngày 23/4/2020 đối với bị cáo: Nguyễn Ngọc T - sinh 1980; Giới tính: Nam;Nơi ĐKNKTT: xã T, huyện T, Hà Nội’;Chỗ ở: xã L, huyện T, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Tùng B và bà Nguyễn Thị M; vợ: Nguyễn Thị L (đã ly hôn). Bị can có 02 con, sinh năm 2010 và 2012; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/12/2019, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 50 phút ngày 14/12/2019, Nguyễn Ngọc T điều khiển xe mô tô Honda Wave RSX biển kiểm soát 30K7 – 0000 đi một mình từ nhà đến chân cầu vượt xã N, huyện T, Hà Nội với mục đích để mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói giấy nhỏ màu trắng bên trong chứa chất bột Heroine màu trắng với giá 100.000 đồng. Sau đó, T cất giữ gói Heroineđã mua được vào túi quần bò phía trước bên phải T đang mặc và điều khiển xe mô tô trên tìm nơi để sử dụng ma túy.
Đến13 giờ ngày 14/12/2019, tổ công tác đồng Công an xã N – Công an huyện T làm nhiệm vụ tại địa phận thôn T, xã N, huyện T, Hà Nội phát hiện T đang điều khiển xe môtô Honda Wave BKS 30K7 - 0000 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành dừng xe để kiểm tra, phát hiện thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của T đang mặc có 01 gói giấy nhỏ bên trong chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ, T khai là chất bột bên trong gói giấy nhỏ trên là ma túy T vừa mua để sử dụng nênTổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật và đưa T về trụ sở để làm việc. Ngoài ra, Cơ quan công an còn tạm giữ của Nguyễn Ngọc T 01 chiếc xe mô tô Honda Wave BKS 30K7 –0000.
Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với 01 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắngđã thu giữ của T. Tại bản kết luận giám định số 7995/KLGĐ ngày 20/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,135 gam. (Cơ quan giám định đã sử dụng hết 0,014 gam trong tổng số 0,135 gam để giám định, hoàn lại 0,121 gam cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T).
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T: Nguyễn Ngọc T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của T phù hợp với các tài liệu chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập được.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T, T khai không biết tên, tuổi và địa chỉ của người này do đó, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác minh làm rõ và xử lý.
Đối với 01 chiếc xe mô tô Honda Wave RSX BKS 30K7 – 0000 thu giữ của Nguyễn Ngọc T, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu của chiếc xe nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã ra Quyết định tách phần hồ sơ liên quan đến chiếc xe mô tô trên để tiếp tục điều tra và xử lý sau.
Bản cáo trạng số 31/CT - VKSTT ngày 24/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
* Bị cáo Nguyễn Ngọc T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo là đúng. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :
- Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Bị cáo từ 12 -18 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Hồi 13giờ00 phút ngày 14/12/2019, tại chợ thuộc thôn T, xã N, huyện T, Hà Nội, khi Nguyễn Ngọc T đang tàng trữ trái phép 01 túi gói giấy bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,135 gam ở túi quần phía trước bên phải T đang mặc thì bị Tổ công tác Đồn Công an xã N – Công an huyện T bắt quả tang, thu giữ tang vật. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện huỷ hoại sức khoẻ con người, làm sói mòn đạo đức xã hội và là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự khác, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe bị cáo và giáo dục phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cảilà tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân bị cáo: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo có trọng lượng còn lại sau giám định 0,121 gam là chất nhà nước cấm tàng trữ không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, T khai không biết tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ, Hội đồng xét xử không xem xét.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của UBTV Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331, 334 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy».
2. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T 14 tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2019.
3. Về áp dụng biện pháp tƣ pháp, xử lý vật chứng:Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:Tịch thu tiêu hủy 0,121gam hêrôin(biên bản giao nhận vật chứng ngày01 tháng 04 năm 2020 của chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì)
4. Về án phí:Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội; - Viện KSND Huyện T, TP Hà Nội; - Công an huyện T, TP Hà Nội; - Cơ sở giam giữ; - Cơ quan THA hình sự huyện T, Hà Nội; - Chi cục THA dân sự Huyện T, Hà Nội; - Bị cáo. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) |