vanban.org

Bản án 42/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 26/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 260; khoản 1 Điều 46; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Minh T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 260; khoản 1 Điều 46; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2020/HS-ST
Ngày: 26-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Chung và ông Trịnh Ngọc Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Thượng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2020/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Phạm Minh T – sinh năm 1997, tại Đồng Nai

Nơi cư trú: Ấp x, xã P.N, huyện Đ.Q, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Chí T – sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị Ánh T – sinh năm 1970; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/02/2020 đến ngày 03/5/2020. (Có mặt)

- Bị hại: Bà Lý A H – sinh năm 1941 (Đã chết)

Địa chỉ: Khu x, thị trấn T.P, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1/ Ông Hồ Xám T – sinh năm 1967 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp y, xã P.L, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

2/ Ông Hồ Huệ C – sinh năm 1963 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp z, xã P.L, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Người làm chứng: (Vắng mặt)

1/ Chị Trần Thị Kim M – sinh năm 1972

Địa chỉ: Tổ x, Khu y, thị trấn T.P, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

2/ Ông Nguyễn Nguyên T – sinh năm 1976

Địa chỉ: Tổ x, Khu y, thị trấn T.P, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Minh T có Giấy phép lái xe hạng A1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đồng Nai cấp ngày 25/8/2016, có giá trị không thời hạn. Sáng ngày 26/12/2019, Tiến điều khiển xe mô tô biển số 60B4-859.42 lưu thông trên Quốc lộ 20 theo hướng D.G – L.Đ. Lúc 05 giờ 30 cùng ngày, khi đến Km 57 + 350m Quốc lộ 20 (là nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ) thuộc Khu 5, thị trấn T.P, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, khi bà Lý A H đi bộ qua đường thì có xe ô tô đi cùng chiều phía sau với T có bóp còi và chiếu đèn sáng, nên bà H giật mình đi nhanh qua đường. Do T thiếu chú ý quan sát, không nhường đường cho người đi bộ nên xe mô tô Tiến điều khiển đã đụng vào bà Lý A H đang đi bộ qua đường từ trái qua phải theo hướng di chuyển của Tiến gây tai nạn giao thông đường bộ. Bà Lý A H được đưa đi cấp cứu và tử vong tại bệnh viện.

Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Đoạn đường xảy ra vụ tai nạn là đoạn đường thẳng, mặt đường trải nhựa khô ráo, giao nhau giữa Quốc lộ 20 và đường N.V.L, có vạch kẻ đường cho người đi bộ qua đường, được chia thành hai chiều đường riêng biệt, phân tách thành vạch kẻ đường đứt quãng, có biển báo hiệu Biển số I.423 (a,b) “Vị trí người đi bộ sang ngang” được quy định tại Phụ lục C ban hành kèm theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 41:2016/BGTVT về báo hiệu đường bộ.

Xe mô tô biển số 60B4-859.42 đổ về bên trái, nằm xéo đầu xe trên hàng lang anh toàn giao thông bên phải theo chiều D.G – L.Đ, đầu xe hướng xéo về L.Đ chếch vào nhà dân, đuôi xe hướng xéo về D.G trên làn đường dành cho người đi bộ và xe thô sơ chếch ra đường. Vết trượt nằm xéo, điểm đầu vết trượt hướng D.G chếch ra đường, điểm cuối vết trượt trùng với mặt ngoài gác để chân bên phải phía trước xe mô tô. Như vậy hiện trường tai nạn giao thông đường bộ nằm trên phần đường bên phải theo chiều lưu thông của xe mô tô biển số 60B4-859.42. Dấu vết để lại trên mặt đường nhựa, xác định nguyên nhân lỗi gây ra vụ tai nạn giao thông do Phạm Minh T điều khiển xe mô tô biển số 60B4-859.42 không nhường đường cho người đi bộ qua đường theo quy định.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 452/TT/2019 ngày 07/01/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đồng Nai kết luận: Nguyên nhân tử vong của bà Lý A H là do đa chấn thương, gồm chấn thương sọ não gây chảy máu màng mềm bán cầu não trái và tiểu não trái, dập tiểu não bên trái, xuất huyết rải rác trong chất trắng đại não, kết hợp chấn thương ngực kín gây gãy xương sườn số 7 đến 9 bên phải, gãy xương sườn số 4 bên trái và chấn thương gây gãy ngành ngồi mu phải.

Theo Cáo trạng số 47/CT-VKS-TP ngày 21/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Phạm Minh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, Điều 38, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Minh T mức án từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại và người đại diện hợp pháp cho bị hại có đơn bãi nại về dân sự cho bị cáo nên không đề nghị xem xét. Về xử lý vật chứng: Đã trao trả xe gắn máy biển số 60B4-859.42 và giấy phép lái xe cho bị cáo nên không đề nghị xem xét. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi về việc vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, đồng ý với tội danh và mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị là tương xứng với hành vi của bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận và xin lỗi gia đình bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại và người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ như Bản Kết luận giám định pháp y, Biên bản khám nghiệm tử thi, các Biên bản khám nghiệm hiện trường và phương tiện, Sơ đồ hiện trường và Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, Đĩa CD bên trong chứa video trích xuất camera của nhà dân (đối với sự việc tai nạn giao thông)... Như vậy, đã có đủ cơ sở đề Hội đồng xét xử xác định:

Phạm Minh T có giấy phép lái xe theo quy định của pháp luật. Lúc 05 giờ 30 phút ngày 26/12/2019, tại Km 57 + 350m Quốc lộ 20 thuộc khu 5, thị trấn Tân Phú, huyện Tân Phú, Tiến điều khiển xe mô tô biển số 60B4-859.42 không nhường đường cho người đi bộ qua đường là bà Lý A H, nên gây tai nạn giao thông đường bộ làm bà H tử vong.

Hành vi của Phạm Minh T đã vi phạm khoản 4 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ: “Điều 11. Chấp hành báo hiệu đường bộ… 4. Tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, giảm tốc độ và nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường.”.

Hành vi của Phạm Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Ngoài ra còn xem xét: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; bị cáo từng tham gia phục vụ trong quân đội; bị hại có một phần lỗi thiếu chú ý quan sát và đột ngột đi nhanh, bất cẩn khi đi bộ qua đường; người đại diện hợp pháp cho bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bãi nại về bồi thường về dân sự. Tình tiết giảm nhẹ của bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về căn cứ quyết định hình phạt:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng, an toàn giao thông, không những gây ra thiệt hại về tài sản, tính mạng của người khác mà còn gây hoang mang lo sợ cho những người tham gia giao thông, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương.

Bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ được hành vi của mình. Bị cáo không tuân thủ các quy định về an toàn giao thông, đã không nhường đường cho người đi bộ qua đường gây ra tai nạn làm bị hại bị thương tích nặng dẫn đến tử vong, với lỗi vô ý.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, có khả năng tự cải tạo. Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân sống có ích cho xã hội, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

Về biện pháp tư pháp:

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) và người đại diện hợp pháp cho bị hại không yêu cầu gì khác, đã có đơn bãi nại về dân sự cho bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Đã trao trả xe mô tô biển số 60B4-859.42 và giấy phép lái xe cho bị cáo, việc giao trả các vật chứng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm a khoản 1 Điều 260; khoản 1 Điều 46; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

- Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;

- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Minh T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Phạm Minh T 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/5/2020).

Giao bị cáo Phạm Minh T cho Ủy ban nhân dân xã P.N, huyện Đ.Q, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Bị cáo Phạm Minh T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại ông T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại ông C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ