- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP TỈNH ĐIỆN BIÊN ______________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2020/HS-ST Ngày 29 - 9 - 2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vàng Thị Dua.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vàng A Hý và ông Thùng Văn Liên.
- Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện NP.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Khôi - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên; mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2020/TLST-HS ngày 11/8/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2020/QĐXXST-HS ngày 07/9/2020 đối với bị cáo:
Lò Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1996 tại huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản NH 1, xã NH, huyện NP, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn Nhân, sinh năm 1970 và con bà: Điêu Thị Hòa, sinh năm: 1974; Bị cáo có vợ là Tẩn A Líu, sinh năm 1994, bị cáo chưa có con;
Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/5/2020 cho tới nay, có mặt tại phiên toà.
Nhân thân: Năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 24 tháng tại Quyết định số 09/2015/QĐ-TA ngày 22/7/2015.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền, trợ giúp viên pháp lý -Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ ngày 16/5/2020 Lò Văn T đi bộ từ bản NH 1, xã NH, huyện NP đến nhà bà Chảo Xoang M, sinh năm 1975, trú tại bản Sín Chải, xã NH, huyện NP, mục đích tìm mua Heroine về sử dụng cho bản thân. Khi đến nhà Chảo Xoang M, Lò Văn T thấy bà Mẩy ở nhà một mình nên T đưa số tiền 700.000 đồng nhờ bà Mẩy đi mua hộ Heroine, Mẩy cầm lấy tiền rồi đi khỏi nhà khoảng 10 phút thì quay lại đưa cho T 01 gói Heroine được gói bằng giấy ni lông màu xanh, T cầm lấy gói Heroine đi ra đến cửa nhà Mẩy thì quay lại trong nhà lấy nước cất rồi đi ra cạnh bếp nhà bà Mẩy chuẩn bị sử dụng ma túy thì tổ công tác Đồn biên phòng NH vào nhà kiểm tra, phát hiện tổ công tác T đã ném gói Heroine vừa mua được vào bếp nhằm tẩu tán tang vật. Tổ công tác đã yêu cầu T nhặt lên và thu giữ 01 gói ni lông màu xanh bị cháy một góc, bên trong có chứa chất bột màu trắng đục nghi Heroine có khối lượng 1,7 gam.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ma túy và lấy mẫu giám định ngày 17/5/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP xác định gói ma túy thu giữ của Lò Văn T có khối lượng 1,7 gam.
Bản kết luận giám định số: 451/GĐ-PC09, ngày 28/5/2020 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn T gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine.
Bản cáo trạng số: 41/CT-VKSNP ngày 10/8/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị can Lò Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Lò Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện NP đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn T mức án từ 24 đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng vụ án 1,5 gam Heroine (Sau khi trừ mẫu gửi giám định).
Miễn án phí án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.
Bà Nguyễn Thị Thu Huyền là người bào chữa cho bị cáo Lò Văn T cho rằng về tội danh bà không có ý kiến gì. Bị cáo Lò Văn T là dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thực hiện hành vi phạm tội do nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, xử phạt cho bị cáo Lò Văn T mức án từ 18 đến 24 tháng tù. Đồng thời xem xét hoàn cảnh gia đình miễn áp dụng hình phạt bổ sung và án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T.
Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn T thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, không bổ sung gì đối với bản bào chữa của bà Huyền và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 09 giờ 30 phút ngày 16/5/2020, Lò Văn T đã bị tổ công tác Đồn biên phòng NH bắt quả tang tại nhà bà Chảo Xoang Mẩy, bản Sín Chải, xã NH, huyện NP, tỉnh Điện Biên và thu giữ 1,7 gam Heroine, Lò Văn T khai nhận số ma túy bị thu giữ do Lò Văn T đưa 700.000 đồng nhờ Chảo Xoang M, sinh năm 1975 trú tại bản Sín Chải, xã NH, huyện NP, tỉnh Điện Biên mua hộ để sử dụng cho bản thân.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định ngày 17/5/2020; Kết luận giám định số 451/GĐ-PC09, ngày 28/5/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên. Vì vậy HĐXX có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Lò Văn T đã có hành vi phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp
̣ nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Bị cáo Lò Văn T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giữ vững kỷ cương của pháp luật góp phần đẩy lùi tội phạm ma tuý và nhằm răn đe, phòng ngừa chung trong nhân dân.
Về nhân thân: Bị cáo Lò Văn T có nhân thân xấu. Năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 24 tháng theo Quyết định số 09/2015/QĐ-TA ngày 22/7/2015. Sau khi về địa phương bị cáo tái nghiện và phạm tội trong vụ án này.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lò Văn T đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Xét đề nghị của bà Nguyễn Thị Thu Huyền về tội danh bà không có ý kiến gì. Bị cáo Lò Văn T sinh ra và lớn lên tại vùng sâu vùng xa, thực hiện hành vi phạm tội một phần do nhận thức pháp luật còn hạn chế; đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; Đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn T mức án từ 18 đến 24 tháng tù; Cần được xem xét để áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 249/BLHS, xét thấy bị cáo Lò Văn T có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có khả năng thi hành nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP, Điều tra viên và người bào chữa, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo Lò Văn T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Lò Văn T khai nhận đưa 700.000 đồng nhờ Chảo Xoang M trú tại bản Sín Chải, xã NH, huyện NP mua hộ để sử dụng cho bản thân. Quá trình điều tra, xác minh và đối chất bà Chảo Xoang M không thừa nhận việc mua hộ ma túy cho Lò Văn T. Vì vậy không đủ cơ sở để xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà Mẩy nên HĐXX không cần đề cập xem xét trách nhiệm của bà Mẩy vì vậy bà Mẩy không cò nghĩa vụ liên quan trong vụ án này. Buộc bị cáo Lò Văn T phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ số ma túy bị thu giữ trong vụ án.
Về vật chứng vụ án: Gồm 1,5 gam Heroine (sau khi đã trừ mẫu gửi giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14. HĐXX xét thấy gia đình bị cáo Lò Văn T là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biêt khó khăn theo quy định của Chính phủ nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
[2] Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51và Điều 38/BLHS: Xử phạt bị cáo Lò Văn T 26 (Hai mươi sáu) tháng tù, kể từ ngày bắt: 16/5/2020.
[3] Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS; Tuyên tịch thu tiêu huỷ 1,5 gam Heroine (Sau khi đã trừ mẫu gửi giám định) cùng toàn bộ phần giấy ni lông màu xanh và phong bì niêm phong cũ, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/8/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện NP.
[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14. Bị cáo Lò Văn T được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
[5] Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo ; - Người bào chữa; - CQĐT Công an huyện NP; - Nhà tạm giữ Công an huyện NP; - CQTHAHS huyện NP; - Phòng KTNV và THA Tòa án tỉnh; - Chi cục THADS huyện NP; - PC 81 CA tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện NP; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên; - Sở tư pháp tỉnh Điện Biên; - Lưu hồ sơ vụ án; HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Vàng Thị Dua |