- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN ––––––––––––––– Bản án số: 42/2020/HS-ST Ngày: 17-3-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Thủy;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cà Văn Pánh.
Bà Bạc Thị Kiên.
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Hứa Ngọc Thông - Kiểm sát viên;
Ngày 17 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2020/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Quàng Văn N, tên gọi khác: Không; sinh năm 1980, tại Điện Biên; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản L, xã T, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Quàng Văn L (đã chết) và con bà: Lò Thị K (đã chết); Vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/11/2019, tạm giam từ ngày 11/11/2019 đến nay bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ ngày 08/11/2019, Quàng Văn N một mình đi bộ từ nhà đến khu rừng thuộc bản H, xã T, huyện Điện Biên, mục đích tìm mua heroine về sử dụng. Khi đến nơi N đã ngủ lại trong rừng, khoảng 07 giờ ngày 09/11/2019 N tiếp tục đi bộ vào trong rừng thì gặp một người đàn ông dân tộc Thái, khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ. Qua chào hỏi, biết người đàn ông có Heroine bán N đã thỏa thuận và mua được của người đàn ông 01 gói Heroine, với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, N cất giấu gói Heroine vào trong túi áo ngực bên trái đang mặc rồi ngồi nghỉ ở trong rừng, khoảng 11 giờ cùng ngày thì đi bộ về nhà. Hồi 12 giờ cùng ngày, khi N đang đi bộ trên đường mòn thuộc khu vực rừng bản H, xã T, huyện Điện Biên thì bị tổ công tác Đồn biên phòng Thanh Luông phối hợp với Đồn biên phòng Mường Pồn kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại túi áo ngực bên trái N đang mặc có 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng nilon màu trắng, được buộc lại bằng dây nịt màu vàng, có khối lượng 5,17 gam.
Tại phiên tòa bị cáo Quàng Văn N đã khai nhận lại toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Mọi lời khai hoàn toàn phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong và xác định khối lượng lấy mẫu giám định, kết luận giám định, kết luận điều tra....
Kết luận giám định số 1022/GĐ-PC09 ngày 17/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Quàng Văn N là chất ma túy: Loại Heroine; Khối lượng vật chứng thu giữ của N là 5,17; Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, Mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018; Không hoàn lại đối tượng giám định.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về các kết luận Giám định nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 40/CT - VKSĐB ngày 11/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm g Khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo mức án từ 05 (năm) đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 5,17 gam Heroine, trích mẫu gửi giám định 0,18 gam, khối lượng vật chứng còn lại: 4,99 gam là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo Quàng Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát, không có ý kiến gì tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Hành vi của bị cáo được chứng minh như sau: Khoảng 19 giờ, ngày 08/11/2019, Quàng Văn N đi bộ đến khu rừng thuộc bản H, xã T, huyện Điện Biên tìm mua heroine về sử dụng, đến nơi N ngủ tại rừng đến 07 giờ ngày 09/11/2019 thì gặp một người đàn ông dân tộc Thái, khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ, N mua được 1.000.000 đồng heroin. Toàn bộ số heroine đã bắt quả tang, bị thu giữ có khối lượng 5,17 gam. Hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo đã tiếp tay cho những người khác chuyên buôn bán các chất ma túy ngày càng phát triển, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng tới trật tự trị an, an toàn trong xã hội trên địa bàn huyện Điện Biên nói riêng cũng như địa bàn tỉnh Điện Biên nói chung. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình gây ra. Nên bị cáo phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sinh sống cùng gia đình tại xã T, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, học hết lớp 4/12, bị cáo chưa có vợ, con, sử dụng chất ma túy từ năm 2016 cho đến nay, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Bị cáo không có tình tiết nào tặng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý và rất nghiêm trọng, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
. Về hành vi của bị cáo bị truy tố và các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng huyện Điện Biên và những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng đã được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì, không khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật và được chấp nhận.
. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, song xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo nghiện ma túy, nguồn thu chính từ làm ruộng. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ vi vậy cơ quan Điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ. Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xử lý.
. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 5,17 gam Heroine, trích mẫu gửi giám định 0,18 gam, khối lượng vật chứng còn lại: 4,99 gam là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành.
. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo Quàng Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g Khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
1. Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Xử phạt bị cáo Quàng Văn N 05 (năm) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 09/11/2019.
3. Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 5,17 gam Heroine, trích mẫu gửi giám định 0,18 gam, khối lượng vật chứng còn lại: 4,99 gam là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành
(Toàn bộ vật chứng của vụ án đã được cơ quan Điều tra Công an huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo Biên bản bản giao nhận vật chứng ngày 14/02/2020).
4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo Quàng Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/3/2020)./.
| Nơi nhận: - VKSND t. Điện Biên; -VKSND h. Điện Biên - Công an huyện Điện Biên. - Nhà tạm giữ; tạm giam CA huyện Điện Biên - Trại giam; - Bị cáo - Cơ quan THA. HS Công an huyện Điện Biên - Thi hành án Dân sự h. Điện Biên - Phòng KTNV và THA – TAND tỉnh Điện Biên - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - L u hå HS; - Lưu hồ sơ vụ án; - L u bộ phận. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN Lò Văn Ơn HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN Lò Văn Thƣơng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thanh Thủy THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN Vũ Thị Thanh Thủy Lƣờng Văn Hịa THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN Vũ Thị Thanh Thủy Lò Văn Hải |