vanban.org

Bản án 42/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 15/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điểm s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Văn B 07 (Bảy) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 27/10/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO LÂM
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2020/HS-ST
Ngày: 15- 12-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Đức Thọ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lưu Bích Hoàn

2. Bà Hoàng Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Văn San - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đạt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 12 năm 2020, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng, tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/2020/HS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2020 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy"; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2020/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng.

Đối với bị cáo Triệu Văn B, tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 10/10/1994; nơi sinh: Pác N, Bắc Kạn; nơi ĐKHKTT (Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú): Nà Ph, Bộc B, Pác N, Bắc Kạn; chỗ ở hiện nay: Tạm trú tại Khu H, thị trấn Pác M, Bảo L, Cao Bằng; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt nam; dân tộc: Sán Chỉ; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Mù chữ; họ tên cha: Triệu Văn K, sinh năm: 1972; họ tên mẹ: Lý Thị Nh, sinh năm: 1972; cùng trú tại: Nà Ph, Bộc B, Pác N, Bắc Kạn; anh, chị, em ruột: Bị cáo có hai anh, em ruột. Bị cáo là con thứ nhất; vợ: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 27/10/2020 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo L, tỉnh Cao Bằng (Có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo Triệu Văn B: bà Hoàng Thị Diệp Hảo.

Nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cao Bằng (Có mặt).

* Người làm chứng:

1. Dương Văn Ng, sinh năm 1966.

Trú tại: Khau H, Yên Th, Bảo L, Cao Bằng (Vắng mặt).

2. Ma Văn M, sinh năm 1993.

Trú tại: Nà R, Nam Q, Bảo L, Cao Bằng (Có mặt).

3. Nông Văn Th, sinh năm 1994.

Trú tại: Po P, Bảo T, Bảo L, Cao Bằng (Vắng mặt).

* Người phiên dịch tiếng Dân tộc (Sán chỉ): ông Bàn Văn Đức.

Trú tại: Khu H, thị trấn Pác M, huyện Bảo L, tỉnh Cao Bằng (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 17 giờ 00 phút, ngày 27/10/2020 Công an huyện Bảo L đang làm nhiệm vụ tại Khu chợ Nông sản thuộc Khu 2, thị trấn Pác M, huyện Bảo L, tỉnh Cao Bằng phát hiện bắt quả tang Triệu Văn B đang có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy cho Nông Văn Th và một đối tượng không rõ lai lịch đã chạy thoát. Thu giữ 01 gói nhỏ được gói bằng túi ni lon đựng xi lanh, bên trong có 03 tép được gói bằng giấy bạc, 01 tép được gói bằng giấy nhiều màu sắc. Kiểm tra xung quanh phát hiện thu giữ: 90.000 đồng, VNĐ nơi B vứt heroine.

Kiểm tra người Triệu Văn B phát hiện và thu giữ: Tại túi quần trước bên phải chiếc quần B đang mặc 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu PHILIPS màu đen, loại điện thoại bàn phím bấm, điện thoại đã qua sử dụng; tại túi quần trước bên trái chiếc quần B đang mặc có số tiền 800.000 đồng,

Kiểm tra người Nông Văn Th phát hiện và thu giữ: 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng.

Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng, tạm giữ tài sản để điều tra làm rõ.

Đến 19 giờ 15 phút, ngày 27/10/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo L phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tiến hành cân số heroine khi bắt quả tang Triệu Văn B có khối lượng là 0,07 g (Không phẩy không bảy gam).

Căn cứ vào chứng cứ tài liệu thu thập được, hồi 19 giờ 50 phút cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo L tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Triệu Văn B, tại Khu H, thị trấn Pác M, Bảo L, Cao Bằng. Qua khám xét khẩn cấp không thu giữ được vật chứng, đồ vật, tài liệu gì.

Tại bản kết luận giám định số 279/GĐMT, ngày 09/11/2020 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Cao Bằng kết luận mẫu gửi giám định vụ Triệu Văn B là ma tuý, loại heroine.

Tại Cơ quan điều tra Triệu Văn B khai; Số heroine Công an thu giữ khi bắt quả tang Triệu Văn B là heroine. Khoảng 10 giờ 00', sáng ngày 27/10/2020 B đến quán bi-a Hoàn Hthuộc khu 3, thị trấn Pác M chơi thì gặp một nam thanh niên không quen biết họ tên, địa chỉ đi xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu trắng, không rõ biển kiểm soát rủ Triệu Văn B đi vào xã Yên Thổ, Bảo Lâm để mua heroine, đi khoảng một tiếng thì đến một xóm ở xã Yên Thổ B không biết tên xóm thì dừng xe ở cạnh đường B đưa cho người này 300.000 đồng, người này cầm tiền đi bộ xuống phía dưới đường, khoảng 10 phút sau thì quay lại và đưa cho B 01(Một) gói nhỏ heroine được gói bằng ni lon màu xanh, sau khi mua được heroine B cùng nam thanh niên lấy một ít heroine ra để cả hai sử dụng bằng hình thức chích, sau khi sử dụng xong B được nam Thanh niên trở về phòng trọ ở tại Khu 2, thị trấn Pác M, tại phòng ở B tiếp tục lấy một ít heroine ra và cùng nam thanh niên trên sử dụng. Sau khi sử dụng heroine xong B chia nhỏ số heroine còn lại ra thành 05 (Năm) gói nhỏ, sau đó lấy 01(Một) gói nhỏ ra khác sử dụng bằng hình thức chích, còn 04(Bốn) gói B cất giấu vào trong túi ni lon đựng xi lanh kim tiêm và cất vào túi quần đang mặc. Sau đó B cùng nam thanh niên này đến bàn bi-a tại khu , thị trấn Pác M, Bảo L.

Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 27/10/2020 Triệu Văn B đang có hành vi bán heroine cho Nông Văn Th, khi B chuẩn bị đưa heroine cho Th thì bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng với vật chứng vụ án.

Ngoài ra, bị cáo B còn khai nhận khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 25/10/2020 B đang chơi tại bàn bi-a Hoàn Hthuộc Khu B, thị trấn Pác M, Bảo Lcó hỏi mua heroine với một người thanh niên không rõ họ tên 300.000 đồng được 03 (ba) gói nhỏ heroine, địa điểm mua bán đoạn bờ kè cách quán bi-a Hoàn Hkhoảng 100m, sau khi mua được heroine B đi xuống bờ sông gần đó lấy 02 (Hai) gói nhỏ heroine ra sử dụng, sau đó B chia 01(Một) gói heroine còn lại thành 02 (Hai) gói nhỏ dùng giấy gói lại và bán heroine cho 02 người, cụ thể:

- Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 25/10/2020 bán 01(Một) gói nhỏ heroine với giá 100.000 đồng cho Ma Văn M nhà ở xã Nam Q, Bảo L, Cao Bằng, địa điểm mua bán tại đằng sau quán bi-a Hoàn H thuộc khu , thị trấn Pác M, Bảo L.

- Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 25/10/2020 bán 01(Một) gói nhỏ heroine cho Dương Văn Ng nhà ở Yên Thổ, Bảo Lâm với số tiền 100.000 đồng, địa điểm mua bán tại đường bờ sông thuộc khu , thị trấn Pác M, Bảo L.

Khi mua bán chỉ có B và người mua biết.

Lời khai của Triệu Văn B phù hợp lời khai của Ma Văn M, Dương Văn Ng và Nông Văn Th được mua heroine với B để để bản thân sử dụng.

Quá trình điều tra bị cáo Triệu Văn B thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đối với 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng, số IMEI 1: 864815044984538, số IMEI 2: 864815044984520, thu khi bắt giữ Nông Văn Th qua điều tra xác định là tài sản của Nông Văn Th không liên quan đến vụ án ngày 10/11/2020 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo L đã ra quyết định xử lý vật chứng số 26 và trả lại điện thoại cho Nông Văn Th để quản lý là có căn cứ.

Số tiền 800.000 đồng (bằng chữ: Tám trăm nghìn đồng) thu giữ của Triệu Văn B xác định là do B lao động mà có và 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu PHILIPS màu đen, loại điện thoại bàn phím bấm, điện thoại đã qua sử dụng, số IMEI 1: 865656023145553, số IMEI 2: 865656023145561 điện thoại trên trong quá trình điều tra truy tố, xét xử bị cáo B không sử dụng vào việc phạm tội nên cần hoàn trả lại cho bị cáo là có căn cứ.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Điều luật áp dụng, mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Triệu Văn B từ 07 (Bảy) năm đến 08 (Tám) năm tù.

- Tình tiết tăng nặng: Không.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

- Về xử lý vật chứng: Xử lý theo quy định của pháp luật.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

-Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Triệu Văn B có ý kiến như sau:

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã nhất trí với bản Cao trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L, Cao Bằng về tội danh mà bị cáo đã thực hiện; đề nghị luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay. Hội đồng xét xử đã điều hành phiên tòa, xét hỏi công khai đối với bị cáo và người làm chứng về hành vi mà bị cáo B đã thực hiện; xem xét, về nhân thân bị cáo có nơi cứ trú rõ ràng, chưa có vi phạm gì, chưa có tiền án, tiền sự cũng như chưa bị xử lý về mặt hành chính, bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn mù chữ, hiểu biết nhận thức pháp luật còn hạn chế, mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật. Do vậy, tôi đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn trả lại bị cáo số tiền 800.000 đồng và 01 (một) điện thoại PHILIPS màu đen, loại bàn phím bấn đã quan sử dụng, cơ quan điều tra đã thu giữ, cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt mà kiểm sát viên đã đề nghị, để bị cáo có thời gian để tu dưỡng, học tập, rèn luyện bản thân sau này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bảo L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo: Ngày 27/10/2020 Triệu Văn B có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy cho Nông Văn Th và một đối tượng không rõ lai lịch đã chạy thoát. Thu giữ 01(Một) gói nhỏ được gói bằng túi ni lon đựng xi lanh, bên trong có 03 tép được gói bằng giấy bạc, 01 tép được gói bằng giấy nhiều màu sắc có khối lượng là 0,07 g (Không phẩy không bảy gam).

Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp tại Cơ quan điều tra, cũng như Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có tính chất nghiêm trọng với lỗi cố ý trực tiếp, với động cơ mục đích vụ lợi, xâm phạm đến khách thể là chất ma túy do Nhà nước độc quyền quản lý. Hành vi trên đã cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) …….;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

…………………..;

. Nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo B là người dân tộc thiểu số, sinh ra ở vùng sâu vùng xa, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; tuy nhiên, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được "Mua bán trái phép chất ma túy" là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có ma túy để sử dụng thỏa mãn bản thân và bán kiếm lời, bị cáo đã cố ý thực hiện.

Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử đã áp dụng những tình tiết có lợi cho người phạm tội; tuy nhiên, đối chiếu với hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, xét thấy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời nhằm tuyên truyền giáo dục cho công dân biết rõ về tác hại của chất ma túy cũng như hậu quả của việc mua bán trái phép chất ma túy và các tội phạm khác có liên quan đến ma túy.

- Tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội thành khẩn khai báo (điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017)

- Tình tiết tăng nặng: Không có

Trong vụ án này, đối với hai người đàn ông không biết họ tên, địa chỉ mua giúp heroine và bán heroine cho Triệu Văn B, do không biết họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có điều kiện xác minh làm rõ những người trên. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi có đủ chứng cứ sẽ tiến hành khởi tố điều tra trong một vụ án khác là có căn cứ.

Đối với Nông Văn Th, Dương Văn Ng mua heroine với B để bản thân sử dụng, hành vi không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự và xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

Đối với Ma Văn M, hiện nay Cơ quan điều tra Công an huyện Bảo L, tỉnh Cao Bằng đã khởi tố thành một vụ án khác (đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Bảo L).

Còn đối với người thanh niên đi theo B và Th khi bắt quả tang đã bỏ chạy do B và Th không biết họ tên, địa chỉ mà đối tượng không hỏi mua ma tuý. Vì vậy cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh điều tra.

. Hướng xử lý vật chứng:

- 01 chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu PHILIPS E101 màu đen, loại điện thoại bàn phím bấm, số IMEI 1: 865656023145553, số IMEI 2: 865656023145561. Xác định tài sản trên không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần hoàn trả lại cho bị cáo là có căn cứ. Tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Tiền Việt Nam: 800.000 đồng (bằng chữ: Tám trăm chín mươi nghìn đồng), xác định số tiền trên không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần hoàn trả lại cho bị cáo là có căn cứ. Tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Truy thu số tiền 290.000 đồng, do liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo để nộp vào ngân sách Nhà nước.

. Về án phí: Bị cáo Triệu Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định;

Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt, hướng xử lý vật chứng, án phí là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điểm s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Văn B 07 (Bảy) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 27/10/2020.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47; Điều 48 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Trả lại cho bị cáo Triệu Văn B: Số tiền là 800.000 đồng (bằng chữ: Tám trăm nghìn đồng); 01 chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu PHILIPS E101 màu đen, loại điện thoại bàn phím bấm, số IMEI 1: 865656023145553, số IMEI 2: 865656023145561. Tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo Thi hành án.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền: 90.000 đồng, (bằng chữ: Chín mươi nghìn đồng)

- Truy thu nộp ngân sách Nhà nước đối với bị cáo: Số tiền 200.000 đồng, (bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).

(Xác nhận tình trạng vật chứng hiện đã được giao, nhận bảo quản tại kho vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo L tỉnh Cao Bằng số 11, ngày 23/11/2020).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Triệu Văn B phải chịu 200.000 đồng, (bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm, để nộp vào ngân sách Nhà nước.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ