vanban.org

Bản án 42/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Trà Vinh Tuyên án 02/10/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 02/10/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ s…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TRÀ VINH
___________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2020/HS-PT
Ngày: 02-10-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Minh Tự

Các Thẩm phán:

Ông Ngô Đ

Ông Nguyễn Văn T

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Vũ Lăng, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 44/2020/HSPT, ngày 11/9/2020 đối với bị cáo Nguyễn Văn G.

Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn G đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2020/HS-ST ngày 31/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T.

Bị cáo c háng cáo:

Nguyễn Văn G, sinh năm 1993, nơi sinh tại tỉnh T. Nơi cư trú: Ấp B, xã T, thị xã D, tỉnh Tr; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965; có vợ tên Thị T, sinh năm 1994; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/02/2020 đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra, trong vụ án còn có người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Do không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, không có kháng nghị nên không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 04 giờ ngày 07/01/2020, bị cáo Nguyễn Văn G điều khiển xe mô tô biển số 68C1- 391.86 chở theo vợ tên Thị T ngồi phía sau, trên xe lúc này còn có 03 giỏ khoai lang, trong đó có 02 giỏ được máng hai bên hông xe mô tô, 01 giỏ để trên ba ga xe phía trước (tổng cộng 03 giỏ khoai khoảng 150 kg). Đến khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường thuộc ấp G, xã H, huyện C. Lúc này bị cáo G điều khiển xe mô tô chạy với tốc độ khoảng 40 km/h và bật đèn chiếu sáng gần, do không tập trung quan sát tầm nhìn phía trước, nên khi khoảng cách còn khoảng 03 mét thì phát hiện bà Trần Thị Đ, sinh năm 1944, ngụ G, xã H, huyện C, tỉnh T đang đi bộ và dẫn chiếc xe đạp đi ở giữa phần đường bên phải, cùng hướng xe mô tô bị cáo đang điều khiển. Khi phát hiện do khoảng cách quá gần, bị cáo G phanh trước và phanh sau, nhưng do xe chở nặng, phanh xe mô tô đã cũ, mòn nên xe mô tô vẫn chạy về phía trước dẫn đến bánh xe mô tô trước va chạm vào chân chống phía sau bên trái của xe đạp, đẩy xe đạp và bà Đ về phía trước khoảng 03 đến 05 mét gây tai nạn, bà Đ bị té ngã xuống đường nhựa. Sau khi xảy ra tai nạn, bà Trần Thị Đ được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa khu vực huyện C, sau đó chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh điều trị nhưng do vết thương quá nặng đến khoảng 07 giờ 10 phút cùng ngày bà Đ tử vong. Riêng bị cáo và vợ là Thị T bị xay xát nhẹ.

Tại Bản kết luận giám định pháp y số: 19/KLGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh, kết luận: Nguyên nhân chính dẫn đến bà Trần Thị Đ tử vong là do chấn thương sọ não nặng.

Tại bản kết luận điều tra vụ án hình sự ngày 29/4/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C xác định: Bị cáo Nguyễn Văn G điều khiển xe mô tô biển số 68C1 - 391.86 với vận tốc từ 40km/h không chú ý quan sát tầm nhìn phía trước nên khi khoảng cách còn khoảng 03 mét thì phát hiện bà Trần Thị Đ đang đi bộ và dẫn chiếc xe đạp đi ở giữa phần đường bên phải, cùng hướng xe mô tô bị cáo đang điều khiển. Hành vi của bị cáo G đã vi phạm vào Khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008.

Đối với bà Trần Thị Đ khi tham gia giao thông bà Đi đi đúng phần đường quy định. Tuy nhiên, bà Đ đi bộ dẫn xe đạp nhưng không đi sát mép đường theo quy định, do đó bà Đ cũng có một phần lỗi trong vụ tai nạn giao thông, vi phạm vào khoản 1 Điều 32 Luật giao thông đường bộ năm 2008.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2020/HS-ST ngày 31/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 13/8/2020, bị cáo Nguyễn Văn G kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm xin giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng với hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo.

Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Sau khi phân tích các tài liệu trong hồ sơ vụ án, phân tích nguyên nhân hậu quả và hành vi phạm tội của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát cho rằng án sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 năm tù là phù hợp. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn G, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn G là trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Đối với yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn G. Hội đồng xét xử nhận thấy rằng: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo G khai nhận bị cáo điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đi trong điều kiện thời tiết ban đêm, bị cáo không chú ý tập trung quan sát tầm nhìn phía trước, đến khi phát hiện bà Trần Thị Đ đi bộ dẫn xe đạp đi cùng chiều phía trước ở giữa phần đường bên phải hướng đi (hướng đi thị xã D đi thành phố T) cách khoảng 03 mét nên bị cáo không xử lý tránh kịp dẫn đến phần bánh xe phía trước của xe mô tô va chạm vào chân chống phía sau bên trái của xe đạp bà Đ gây ra tai nạn giao thông. Từ đó, cho thấy bị cáo gây ra tai nạn giao thông với ý thức chủ quan vì quá tự tin. Mặc dù bị hại trong vụ án này cũng có một phần lỗi đi không sát mép đường theo quy định nhưng nguyên nhân chính trong vụ án này là lỗi của bị cáo.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham giao thông đường bộ ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sử đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Xét thấy, mức án 01 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Văn G là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 năm tù là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, đã xem xét toàn diện, khách quan các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, vì hiện nay vấn đề tai nạn giao thông do người điều khiển không chấp hành nghiêm các quy tắc giao thông như chạy xe thiếu quan sát, đang là mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội. Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương tuyên truyền, phổ biến giáo dục mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Luật giao thông nhằm đảm bảo tính mạng, sức khỏe, tài sản cho mọi người khi tham gia giao thông, hạn chế mức thấp nhất những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản do tai nạn giao thông gây ra. Bởi vì, xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ, khi tham gia giao thông tuyệt đối phải chấp hành nghiêm các quy tắc giao thông đường bộ nhằm phòng tránh tai nạn xảy ra. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo không có cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn G, giữ nguyên án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T.

Đề nghị của Viện Kiểm sát xét xử phúc thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn G phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QU T ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn G.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2020/HS-ST ngày 31/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T.

Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn G 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn G phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ