| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2020/HS-PT Ngày: 07-02-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông
h c Thịnh
Các thẩm phán: Ông Huỳnh Thanh Mỹ
Bà Nguyễn Thị Võ Trinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh V n Nhựt Minh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Trung Đến - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 n m 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 358/2019/TLPT- HS ngày 18 tháng 12 n m 2019 đối với bị cáo Nguyễn Phước T. Do có kháng cáo của ị cáo Ngu ễn Phước T và người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn V n T1 đối với ản án hình sự sơ thẩm số: 60/2019/HS-ST ngà 08 tháng 11 n m 2019 của Tòa án nhân dân thành phố S.
- Bị cáo có kháng cáo: Ngu ễn Phước T, sinh n m 19XX; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Số XXX, đường Trần Hưng Đạo, khóm X, phường X, thành phố S, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: àm thu ; Trình độ học vấn: XX/12; Dân tộc: inh; Tôn giáo: hông; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngu ễn V n C, sinh n m 19XX và à Ngu ễn Thị ích C1, sinh n m 19XX; Vợ: Ngu ễn Thị N, sinh n m 19XX; Có có 02 con, sinh n m 2005 và n m 2010; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/10/2010, ị Tòa án nhân dân thành phố S xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh ạc”; Tạm giữ, tạm giam: hông. Bị cáo ị áp dụng iện pháp ng n chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phi n tòa).
- Người bị hại: Nguyễn V n H, sinh n m 19XX (chết);
- Người đạidiệnhợp phápcủabịhại: Nguyễn V n T1,sinhn m 19XX (cómặt).
Nơi cư trú: Số XXX đường Trần Hưng Đạo, Khóm X, Phường X, thành phố S, tỉnh Đ.
Trong vụ án còn có người đại diện hợp pháp của bị hại là Nguyễn Thị L, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG V ÁN:
Th o các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phi n tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:
Ngu ễn Phước T là người làm thu cho hộ kinh doanh vật liệu xâ dựng, trang trí nội thất Thịnh Phát do chị Phạm Thị Phương C1 là người đại diện th o pháp luật, tọa lạc tại số XX đường Ngu ễn Tất Thành, khóm X, phường X, thành phố S, tỉnh Đ. hoảng 14 giờ 15 phút ngà 07/7/2019, T không có giấ phép lái xe theo qu định nhưng điều khiển x mô tô a ánh iển số 6XSX-XXXXX (do chị Đặng Hu ền Phương N đứng t n giấ đ ng ký x ) tr n x chở vật liệu xâ dựng (gạch) giao cho khách hàng và chở anh Ngu ễn V n H ( m vợ của T), anh H ngồi n pH phía trước thùng x lưu thông tr n đường Ngu ễn Tất Thành hướng về đường ĐT 848. hi T điều khiển x đến vòng xu ến giao lộ giữa đường Ngu ễn Tất Thành với đường Ngô Gia Tự thuộc hóm X, Phường X, thành phố S, lúc này T thấ có 01 x mô tô đang điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước nên T điều khiển x lách về phía n phải để vượt qua x mô tô, nhưng do không làm chủ ta lái làm x mô tô a ánh nghi ng sang một n rồi trượt ngã l n vỉa hè và va vào x mô tô iển số 6XKX-XXXX của anh ùi Vĩnh T2 đang đậu tr n vỉa hè. Hậu quả làm anh H ngã xuống đường ị thương vùng lưng nặng được mọi người đưa đến ệnh viện đa khoa thành phố S cấp cứu, nhưng sau đó đã tử vong, còn T ị thương nhẹ.
Tại i n ản khám nghiệm hiện trường ngà 07/7/2019 xác định như sau:
- Mặt đường nơi xả ra tai nạn (ngã x ) có ề rộng là 15,3 mét.
- Vết cà có chiều dài 0,87 mét, đầu cà đo ra lề là 1,89 mét, cuối cà đo ra lề là 2,03 mét.
- Vết chạt thứ nhất dài 0,56 mét, đầu vết chạt trùng lề, cuối vết chạt đo ra lề là 0,41 mét.
- Vết chạt thứ hai dài 2,29 mét, đầu vết chạt trùng lề, cuối vế chạt đo ra lề là 1,78 mét.
Tại kết luận giám định pháp về tử thi số 254/TTh-TTPY ngày 07/7/2019 của Trung tâm pháp thuộc Sở Y tế tỉnh Đồng Tháp kết luận: Nguyễn Văn H chết do chấn thương nặng vùng lưng (T) làm gãy xương sườn số V bên (T) đâm vào phổi gây xuất huyết phổi.
Quá trình xác minh và khám nghiệm hiện trường Công an đã trích xuất cam ra an ninh có lưu giữ đoạn ghi hình vụ tai nạn giao thông làm anh Ngu ễn V n H tử vong vào ngà 07/7/2019 để làm c n cứ cho quá trình giải qu ết vụ án.
Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ và trao trả xe mô tô 03 ánh iển số 6XSX-XXXXX cho chị Đặng Hu ền Phương N1; trao trả xe mô tô iển số 6XKX-XXXX cho anh ùi Vĩnh T2.
Quá trình điều tra, Ngu ễn Phước T, chị Phạm Thị Phương C1 đã ồi thường chi phí mai táng phí tổng cộng 40.000.000đ (phần ị cáo 10.000.000đ, chị C1 30.000.000đ) cho gia đình ị hại do anh Ngu ễn V n T1 là người đại diện nhận xong. Đồng thời T cũng đã sửa x mô tô iển số 6XKX-XXXX cho anh T2 xong. Anh T1 và anh T2 không u cầu ồi thường thiệt hại nào khác.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 60/2019/HS-ST ngày 08/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố S đã quyết định:
Tu n ố: Bị cáo Ngu ễn Phước T đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
C n cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của ộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phước T mức án 02 (hai) n m tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tu n về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 19 tháng 11 n m 2019, bị cáo Nguyễn Phước T có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.
Ngày 17 tháng 01 n m 2020, bị cáo Nguyễn Phước T có đơn kháng cáo ổ sung, tha đổi nội dung kháng cáo, bị cáo xin được cải tạo không giam giữ.
Ngà 19 tháng 11 n m 2019, người đại diện hợp pháp cho bị hại là ông Nguyễn V n T1 có đơn kháng cáo với nội dung xin cho bị cáo được hưởng án treo. Tại phi n tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp cho bị hại là ông Nguyễn V n T1 tha đổi nội dung kháng cáo, xin cho bị cáo được cải tạo không giam giữ.
Tại phi n tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát iểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Nguyễn Phước T bị Tòa án cấp sơ thẩm qu kết về tội “Vi phạm qu định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 ộ luật hình sự là có c n cứ, đúng người, đúng tội và đúng qu định của pháp luật. Xét mức hình phạt 02 n m tù mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị hại là ông Nguyễn V n T1 kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và ông T1 tha đổi kháng cáo xin cho bị cáo được cải tạo không giam giữ với lý do bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình có hoàn cảnh khó kh n, đơn chiếc, ch m sóc cha mẹ già, con còn nhỏ; vợ bị cáo bị bệnh tiểu đường, lao phổi. Đâ là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự th o qu định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo. Tuy nhiên, những tình tiết này không là những tình tiết được áp dụng cho bị cáo được cải tạo không giam giữ th o qu định của pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa phần Quyết định của ản án sơ thẩm về hình phạt, giảm nhẹ cho bị cáo từ 03 tháng đến 06 tháng tù.
ị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo không giam giữ.
NH N Đ NH CỦA T A ÁN:
Tr n cơ sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phi n tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Phước T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp cho bị hại, vật chứng cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Nguyễn Phước T không có giấ phép lái x th o qu định, điều khiển xe mô tô 03 bánh biển số 6XSX-XXXXX chở anh Nguyễn V n H và vật liệu xây dựng lưu thông tr n đường Nguyễn Tất Thành hướng về đường ĐT848. Khi đến vòng xuyến giao lộ giữa đường Nguyễn Tất Thành với đường Ngô Gia Tự thuộc khóm X, phường X, thành phố S thì T điều khiển x vượt qua xe mô tô đang lưu thông cùng chiều phía trước nhưng do không làm chủ tay lái làm xe mô tô 03 bánh nghiêng, ngã trượt lên vỉa hè. Hậu quả làm anh H ngã xuống đường bị chấn thương nặng vùng lưng trái, gã xương sườn số V n trái đâm vào phổi gây xuất huyết phổi dẫn đến tử vong.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Nguyễn Phước T điều khiển x khi chưa có giấy phép lái xe th o qu định và vượt qua xe khác ở nơi đường giao nhau nên không làm chủ được tay lái dẫn đến xe mô tô 03 bánh nghiêng, ngã lên vỉa hè làm anh H ngã xuống đường bị chấn thương nặng vùng lưng trái làm gã xương sườn số V n trái đâm vào phổi gây xuất huyết phổi dẫn đến tử vong. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của bị hại, gây đau thương cho gia đình của nạn nhân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn giao thông tại địa phương. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm qu định về tham gia giao thông đường bộ” th o điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo T về tội “Vi phạm qu định về tham gia giao thông đường bộ” th o qu định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có c n cứ, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Mức hình phạt mà án sơ thẩm đã tu n đối với bị cáo là phù hợp tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Án sơ thẩm đã x m xét nhân thân cũng như các tình tiết t ng nặng và giảm nhẹ đối với ị cáo. Tu nhi n, sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo và người đại diện hợp pháp của người bị hại kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo bổ sung kháng cáo xin được cải tạo không giam giữ. Xét thấy, trong quá trình điều tra cũng như tại các phi n tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra n n n hối cải. Về nhân thân, bị cáo xuất thân là thành phần nhân dân lao động là lao động chính duy nhất trong gia đình có hoàn cảnh khó kh n về kinh tế được cấp sổ hộ cận nghèo để nuôi người cha bị khuyết tật, mẹ và vợ bị bệnh cùng 02 con nhỏ. Giữa bị cáo và người bị hại có mối quan hệ thân thích (bị cáo là anh rễ của bị hại). Với các tình tiết giảm nhẹ n u tr n cũng như mối quan hệ gia đình giữa bị cáo và người bị hại. Xét thấy bị cáo có đủ điều kiện để hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ th o qu định tại Điều 36 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện bị hại là ông T1 tha đổi kháng cáo xin cho bị cáo được cải tạo không giam giữ vì xử phạt tù đối với T sẽ làm cho gia đình con gái ông đã khó kh n lại càng khó kh n hơn nữa. Từ những phân tích nêu trên, xét thấy kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại là có c n cứ nên chấp nhận. Bị cáo T làm thuê, thu nhập không ổn định nên không xem xét khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
[4] Xét lời phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo T về các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị như đã n u tr n là có c n cứ một phần nên Hội đồng xét xử chấp nhận phần đề nghị này.
[5] Do kháng cáo của bị cáo T và người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Tuấn được chấp nhận nên bị cáo T và ông Tuấn không pH chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
Các phần khác của quyết định ản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
C n cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo xin cải tại không giam giữ của bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại. Sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Phước T.
Tu n ố: Bị cáo Ngu ễn Phước T đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
C n cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 36 của Bộ luật hình sự n m 2015, sửa đổi bổ sung 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phước T 02 (hai) n m cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủ an nhân dân Phường X, thành phố S, tỉnh Đ nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân Phường X, thành phố S, tỉnh Đ giám sát, giáo dục. Gia đình ị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân Phường X, thành phố S, tỉnh Đ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Phước T phải thực hiện những nghĩa vụ qu định tại Luật thi hành án hình sự.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Phước T và người đại diện hợp pháp cho người bị hại là ông Nguyễn V n T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
ản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngà tu n án.
| N i nh n: - TANDTC (Vụ GĐ-KT1); - V SND Tỉnh; - an Nội chính Tỉnh ủ ; - Sở Tư pháp Tỉnh; - TAND - VKSND TP. S; - Chi cục THADS TP. S; - Cơ quan CSĐT CA TP. S; - Ủ an nhân dân Phường 1, TP. S; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh; - Phòng KTNV-THA TA Tỉnh; - Bị cáo, ĐD H; - ưu: VT, hồ sơ vụ án (M). | TM. HỘI ĐỒNG X T X PH C TH M TH M PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Khắc Thịnh |