- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Y P yêu cầu ly hôn với Lê Thành Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị Nguyễn Thị Y P với anh Lê Thành Đ.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2020/HNGĐ-ST Ngày: 28-7-2020. V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H, TỈNH T
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Ly
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Huỳnh Hải Đăng;
2. Ông Cao Thanh Truyền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thảo Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh T.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Việt – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 160/2020/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2020 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Y P, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Số nhà 10A, Tổ 3, ấp TX, xã TH, thị xã H, tỉnh T, (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Lê Thành Đ, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Số nhà 10A, Tổ 3, ấp TX, xã TH, thị xã H, tỉnh T, (vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Chị Nguyễn Thị Y P trình bày:
Chị và anh Lê Thành Đ tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thị xã T, tỉnh T vào năm 2012. Vợ chồng chị chung sống hạnh phúc được một thời gian đến năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Đ không lo mà ăn mà thường xuyên đánh bạc, không chăm lo cho cuộc sống của vợ con. Từ năm 2018 chị đã ly thân với anh Đ cho đến nay, hiện tại chị không thấy còn tình cảm với anh Đ nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho vợ chồng chị được ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng chị có một người con chung tên là Lê Nguyễn Huỳnh A, sinh ngày 25-3-2012, từ ngày ly thân với anh Đ thì cháu Huỳnh A sống chung với chị, nay ly hôn chị yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lê Thành Đ: Được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt tại các phiên họp hòa giải cũng như tại phiên tòa nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị Nguyễn Thị Y P. Về con chung giao cháu Lê Nguyễn Huỳnh A, sinh ngày 25-3-2012 cho Chị Nguyễn Thị Y P nuôi dưỡng, ghi nhận chị P không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không có nên không giải quyết.
Chị P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Anh Lê Thành Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, Chị Nguyễn Thị Y P có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại các Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y P và anh Lê Thành Đ chung sống với nhau vào năm 2010, đăng ký kết hôn năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã LH, huyện TB nay là phường LH, thị xã TB, tỉnh T. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân của mâu thuẫn chủ yếu là do chuyện tiền bạc, anh Đ không chăm lo đến cuộc sống của vợ con. Năm 2018 chị P và anh Đ đã sống ly thân cho đến nay. Anh Đ được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tiến hành làm việc nhưng vắng mặt thể hiện không có thiện chí muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng. Do đó, xét thấy mục đích hôn nhân của chị P anh Đ không đạt được, cuộc sống chung không hạnh phúc nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P đối với anh Đ.
Về con chung: Vợ chồng chị P, anh Đ có một người con chung là Lê Nguyễn Huỳnh A, sinh ngày 25-3-2012. Từ ngày chị P, anh Đ ly thân cho đến nay thì cháu Huỳnh A sống chung với chị P, nay xin ly hôn chị P có nguyện vọng muốn được nuôi cháu Huỳnh A và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Do đó cần giao cháu Huỳnh A cho chị P chăm sóc, nuôi dưỡng, ghi nhận chị P không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
Anh Lê Thành Đ được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không giải quyết vấn đề này.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T là phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 53, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị Nguyễn Thị Y P với anh Lê Thành Đ.
2. Về con chung: Giao cho Chị Nguyễn Thị Y P trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lê Nguyễn Huỳnh A, sinh ngày 25-3-2012. Ghi nhận chị P không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
Anh Lê Thành Đ được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị P phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị P đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0008633 ngày 24 tháng 4 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H, tỉnh T, chị P đã nộp xong án phí.
Án dân sự sơ thẩm xử công khai báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh T trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh T; - VKSND thị xã H; - Chi cục THADS thị xã H; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |