vanban.org

Bản án 42/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Thu N1.

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thu N1 được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1. Về con chung: Chị Trần Thị Thu N1 được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Ngọc Yến N2, sinh ngày 11/02/2019. Anh Nguyễn Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi dưỡng con chung, do chị N1 không có yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRÂN THI THU N1 - NGUYEN VĂN T1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Thu N1.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 21-7- 2020.
V/v “Tranh chấp về hôn nhân
và gia đình về ly hôn, nuôi con ”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Huỳnh Trung Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Bé Hai

2. Bà Hồ Thị Mai Hƣơng

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Trong ngày 21/7/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 189/2020/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2020 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2020/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Trần Thị Thu N1, sinh năm 1994;

Địa chỉ: Ấp Hòa H, xã Kiến A, huyện Chợ M, tỉnh An G.

Bị đơn: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1993;

Địa chỉ: Ấp 4, xã Phương T2, huyện Cao L, tỉnh Đồng Tháp.

(Chị N1 có mặt tại phiên tòa, anh T1 vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị Thu N1 trình bày:

- Về hôn nhân: Chị N1 và anh Nguyễn Văn T1 kết hôn và chung sống với nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phương T2, huyện Cao L, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 19/11/2015. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Thời gian sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong hôn nhân làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. N2ều lần chị N1 nói chuyện để tìm cách hàn gắn lại hôn nhân nhưng không thành. Từ tháng 9/2019, chị N1 và anh T1 đã sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian ly thân, chị N1 và anh T1 không còn liên lạc hay quan tâm gì đến nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị N1 yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Yến N2, sinh ngày 11/02/2019, hiện nay con chung sống cùng với chị N1. Khi ly hôn, chị N1 yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn T1 đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp, hòa giải và được triệu tập xét xử hợp lệ nhưng không có văn bản ý kiến, không tham gia hòa giải và không có mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:

- Giấy chứng nhận kết nhận kết hôn: Nguyễn Văn T1 – Trần Thị Thu N1; đăng ký ngày 19/11/2015 tại UBND xã Phương T2, huyện Cao L (Bản chính).

- Trích lục khai sinh Nguyễn Ngọc Yến N2 (Bản sao).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào đơn yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Thu N1 về việc yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật của vụ án này là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con”.

Về thẩm quyền: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình về việc xin ly hôn giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn hiện nay đang cư trú tại xã Phương T2, huyện Cao L nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn T1 mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Nguyễn Văn T1.

Xét yêu cầu của nguyên đơn:

- Về hôn nhân: Theo lời trình bày của chị N1 thì chị và anh T1 chung sống với nhau vào năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phương T2, huyện Cao L vào ngày 19/11/2015. Như vậy có căn cứ xác định hôn nhân của chị N1 và anh T1 là hợp pháp. Sau thời gian chung sống thì nay chị N1 yêu cầu ly hôn vì cho rằng hôn nhân không thể tiếp tục, sống chung không còn hạnh phúc, vợ chồng cũng đã không chung sống từ tháng 9/2019 đến nay. Về phía anh T1 là bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các thông báo của tòa án nhưng không có ý kiến, không tham gia các phiên họp, phiên hòa giải và phiên tòa. Như vậy, có căn cứ nhận định anh T1 không có thiện chí hàn gắn tình cảm, mâu thuẫn giữa vợ chồng như chị N1 trình bày là có thật và đã đến mức trầm T1, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N1.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Yến N2, sinh ngày 11/02/2019, hiện đang sống chung với chị N1. Khi ly hôn, chị N1 yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng. Xét thấy, hiện nay con chung đang sống với chị N1 phát triển và được chăm sóc tốt. Thu nhập của chị N1 đủ điều kiện đảm bảo cho việc nuôi dưỡng cháu N2. Do đó, cần để cho chị N1 tiếp tục nuôi dưỡng con chung, anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu của chị N1.

Anh Nguyễn Văn T1 được quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị N1 trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, thì chị N1 phải chịu 300.000đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị N1 đã nộp theo biên lai số 0003575 ngày 29/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 9, 51, 55, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Thu N1.

- Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thu N1 được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.

- Về con chung: Chị Trần Thị Thu N1 được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Ngọc Yến N2, sinh ngày 11/02/2019. Anh Nguyễn Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi dưỡng con chung, do chị N1 không có yêu cầu.

Anh Nguyễn Văn T1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Chị Trần Thị Thu N1 phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị N1 đã nộp theo biên lai số 0003575 ngày 29/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ