- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào Thị M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Thào Thị M phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP TỈNH ĐIỆN BIÊN ______________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2019/HS-ST Ngày 19 - 8 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vàng Thị Dua.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thùng Văn Liên và ông Vàng A Hý.
- Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện NP.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Lê Thành Công - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên; mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 44/2019/TLST-HS ngày 24/7/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2019/QĐXXST-HS ngày 08/8/2019 đối với bị cáo:
Thào Thị M; Sinh năm 1968 tại huyện Y – Yên Bái; Nơi cư trú: Bản NT 1, xã NB, huyện NP, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Thào A C (đã chết) và con bà: Giàng Thị A sinh năm: 1947; Bị cáo có chồng là Hờ Sông S (Đã chết) và có 07 người con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không;
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/4/2019 cho tới nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa: Ông Pờ Go Loòng – Là Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Điện Biên được trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Điện Biên cử bào chữa cho bị cáo Thào Thị M.
Địa chỉ: Tổ dân phố 01, xã MN, huyện MN, tỉnh Điện Biên (Có mặt).
Người phiên dịch: Ông Hồ A Dế, sinh năm 1984
Địa chỉ: Bản H, xã NK, huyệnNP, tỉnh Điện Biên (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 45 phút ngày 09/4/2019, tổ công tác Đồn biên phòng NB làm nhiệm vụ tại bản NT 1, xã NB, huyện NP phát hiện bắt quả tang Thào Thị M đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, vật chứng thu giữ là 3,23 gam Methamphetamine. Quá trình điều tra Thào Thị M khai nhận số ma túy tổng hợp bị thu giữ là của M đã mua của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ tại khu vực Mốc 53 biên giới Việt Nam - Lào thuộc xã NB, huyện NP với giá 500.000đ vào khoảng thời gian giữa tháng 3 năm 2019 với mục đích để sử dụng cho bản thân.
Ngày 10/4/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP đã tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng ma túy thu giữ của Thào Thị M là 3,23 (Ba phẩy hai mươi ba) gam.
Bản kết luận giám định số: 436/GĐ-PC09, ngày 25/4/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Thào Thị M gửi giám định là chất ma túy. Loại Methamphetamine. Khối lượng vật chứng thu giữ của Thào Thị M là 3,23 gam.
Bản cáo trạng số: 43/CT-VKSNP ngày 22/7/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị can Thào Thị M về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249/ BLHS.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Thào Thị M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện NP đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bị cáo Thào Thị M phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Thào Thị M mức án từ 36 đến 42 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 2,82 gam Methamphetamine (sau khi trừ mẫu gửi giám định) và toàn bộ phần giấy nilon, phong bì cũ của Đồn biên phòng NB.
Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Thào Thị M thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ông Pờ Go Loòng là người bào chữa cho bị cáo Thào Thị M cho rằng về tội danh ông không có ý kiến gì. Bị cáo Thào Thị M sinh ra và lớn lên tại vùng sâu vùng xa, không được đi học, thực hiện hành vi phạm tội một phần do nhận thức pháp luật còn hạn chế; bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Đề nghị HĐXX căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38/BLHS xử phạt bị cáo Thào Thị M mức thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Đồng thời xem xét hoàn cảnh gia đình miễn áp dụng hình phạt bổ sung và án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Thào Thị M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Thào Thị M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hồi 18 giờ 45 phút ngày 09/4/2019, Thào Thị M đã bị tổ công tác Đồn biên phòng NB bắt quả tang tại khu vực bản NT 1, xã NB, huyện NP, thu giữ 32 viên nén màu hồng trên mỗi viên ký hiệu WY có khối lượng 3,23 gam là Methamphetamine. Bị cáo M tàng trữ trái phép 3,23 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Vì vậy có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Thào Thị M đã có hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý đặc biệt các chất ma tuý của Nhà nước và gây ảnh hưởng xấu an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo Thào Thị M là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, để có ma túy sử dụng bị cáo đã mua ma túy tàng trữ, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Vậy hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giữ vững kỷ cương của pháp luật góp phần đẩy lùi tội phạm ma tuý và nhằm răn đe, phòng ngừa chung trong nhân dân.
Về nhân thân: Bị cáo Thào Thị M từ nhỏ không được đi học, do không chịu rèn luyện bản thân và hiểu biết pháp luật hạn chế nên bị cáo đã sớm nghiện chất ma túy và có hành vi phạm tội trong vụ án này.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Thào Thị M phạm tội lần đầu, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Thào Thị M thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải là tình tiết để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.
Xét đề nghị và luận tội của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét đề nghị của vị luật sư đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự xử phạt cho bị cáo Thào Thị M mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; Cần được xem xét để áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo Thào Thị M không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 249/BLHS, xét thấy bị cáo Thào Thị M có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có khả năng thi hành nên HĐXX không áp dụng hình bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Thào Thị M khai nhận đã mua ma túy của người đàn ông không biết tên tuổi và địa chỉ ở đâu tại khu vực Mốc 53 biên giới Việt Nam – Lào thuộc khu vực xã NB, huyện NP. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, không có cơ sở để xác minh và xử lý đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo và buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma túy bị thu giữ.
Về vật chứng vụ án: gồm 2,82 gam Methamphetamine (Sau khi trừ mẫu gửi giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành và toàn bộ phần giấy nilon, phong bì niêm phong cũ của Đồn biên phòng NB; Cần tuyên tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: HĐXX xét thấy gia đình bị cáo Thào Thị M là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn quy định của Chính phủ nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Thào Thị M được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố bị cáo Thào Thị M phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38/BLHS: Xử phạt bị cáo Thào Thị M 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, kể từ ngày bắt: 09/4/2019.
[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS; Tuyên tịch tiêu hủy 2,82 gam Methamphetamine (sau khi trừ mẫu gửi giám định) và toàn bộ phần giấy nilon, phong bì cũ của Đồn biên phòng NB, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/7/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện NP.
[3] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016: Bị cáo Thào Thị M được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
[4] Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người bào chữa; - CQĐT Công an huyện NP; - Nhà tạm giữ Công an huyện NP; - CQTHAHS huyện NP; - Phòng KTNV và THA Tòa án tỉnh; - Chi cục THADS huyện NP; - PC 81 CA tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện NP; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên; - Sở tư pháp tỉnh Điện Biên; - Lưu hồ sơ vụ án; HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Vàng Thị Dua |