- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sung Văn Pó - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên: Sung Văn P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2019/HS-ST Ngày 06.11.2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
__________________
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ
Với thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn C và Ông Hoàng Văn H .
Thư ký phiên toà: Ông Lâu Văn C , Thư ký - Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát tham gia phiên tòa: Ông Lâu Văn L - Kiểm sát viên.
Ngày 06/11/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2019/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2019/QĐXXST-HS ngày 24/10/2019 đối với bị cáo:
Sung Văn P - Sinh năm: 1979; Trú tại: Bản Cặt, xã Nhi Sơn, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ học vấn: 1/12.
Con ông: Sung Văn X , sinh năm: 1945. Con bà: Thao Thị X, sinh năm: 1950. Vợ: Hơ Thị C , sinh năm 1982. Có ba người con; lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2012. Hiện tại bố, mẹ, vợ và các con của bị cáo đang sinh sống bằng nghề trồng trọt tại: Bản Cặt, xã Nhi Sơn, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.
Bố mẹ bị cáo sinh được 05 người con, bị cáo là con thứ hai trong gia đình, sinh ra được bố mẹ nuôi cho ăn học đến lớp 1/12 thì bỏ học. Bị cáo có sử dụng trái phép chất ma túy.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2019 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hà Văn K - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý số 1, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ, ngày 03/7/2019 bị cáo điều khiển xe máy BKS 36N2 - 3981 đi đến bản Pá Hộc, xã Nhi Sơn, huyện Mường Lát để lấy củi, lấy củi xong bị cáo đi xuống đường Quốc lộ 15C thì gặp một người phụ nữ dân tộc Mông không biết tên, tuổi, địa chỉ, người này hỏi bị cáo có mua ma túy không, bị cáo đồng ý mua và đưa cho người này 10.000đ (mười nghìn đồng) với mục đích mua ma túy để sử dụng, người này đưa cho bị cáo một gói nilon màu đen bên trong là gói nilon màu hồng chứa 20 (hai mươi) viên hồng phiến (ma túy tổng hợp). Mua được ma túy, bị cáo mang về nhà. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, bị cáo điều khiển xe máy đi từ nhà cầm theo số ma túy mua được đi lên nhà bà cô tên là Sung Thị C ở bản Cá Tớp, xã Pù Nhi, huyện Mường Lát để xin gạo. Khi đi đến đầu bản Cá Tớp thì bị lực lượng Công an huyện Mường Lát yêu cầu dừng xe để kiểm tra, bị cáo đã ném gói ma túy cầm trên tay xuống đất nhưng đã bị lực lượng Công an phát hiện, thu giữ toàn bộ số ma túy trên, lúc đó là 20 giờ ngày 03/7/2019.
Tại bản Kết luận giám định số: 1677/PC09 ngày 09 tháng 7 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận:
Hai mươi viên nén màu hồng hình trụ tròn của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 2,066g (Hai phẩy không sáu sáu gam) loại: Methamphetamine.
Ngoài ra còn thu giữ một xe máy của hãng SYM loại xe ANGEL; BKS: 36N2 - 3981, không phát hiện số khung, số máy: VNVA2A-D028129, không có gương chiếu hậu, không có yếm, không có ốp mặt nạ trước, xe đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bản cáo trạng số 42/CT-VKS-MT ngày 06/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố bị cáo phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tranh luận và luận tội: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải và công nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bị cáo phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về điều luật: Áp dụng: Điều 38; điểm s khoản 1 điều 51; Điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về hình phạt: Bị cáo từ 24 đến 28 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, vì bị cáo là hộ nghèo, làm nghề trồng trọt, thu nhập thấp và không ổn định, là người nghiện chất ma túy, nên không có tính thực thi.
Về vật chứng: Xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo là hộ nghèo nên miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng biện pháp ép cung, bức cung hay nhục hình và khai nhận, biết rõ hành vi tàng trữ chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật và bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do bản thân bị nghiện chất ma túy, không kìm chế được bản thân, bị cáo công nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã nêu là đúng, bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới.
Ý kiến người bào chữa: Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo đồng tình với quan điểm truy tố và luận tội của VKS về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ TNHS, đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí cho bị cáo. Người bào chữa đề nghị HĐXX xem xét mức án thấp nhất của khung hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo, sớm được trở về với gia đình và xã hội, bản thân trở thành công dân có ích.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận tội, đồng tình với lời bào chữa, không thay đổi, bổ sung thêm gì làm thay đổi nội dung vụ án, không có ý kiến tranh luận với đại diện VKS, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức án thấp nhất của khung hình phạt, để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Xét về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Lát, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố; Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Trợ giúp viên pháp lý là người bào chữa cho bị cáo và bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Chứng cứ xác định có tội, không có tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định và chứng cứ khác trong hồ sơ, đủ cơ sở khẳng định: Hành vi của bị cáo tàng trữ 2,066g (Hai phẩy không sáu sáu gam) Methamphetamine để sử dụng là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà Nước, ma tuý là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Hiện nay ma túy đang trở thành hiểm họa lớn cho toàn xã hội về tác hại của nó và còn là nguyên nhân làm lây lan căn bệnh thế kỷ HIV - AIDS. Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện.
Với hành vi, tính chất vụ án, năng lực chịu trách nhiệm hình sự; Trọng lượng ma túy bị cáo tàng trữ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Tại các cơ quan tố tụng cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS. Với các tình tiết này HĐXX xem xét xử bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
Xét về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Thấy rằng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về mức hình phạt cho bị cáo là phù hợp với hành vi phạm tội và khối lượng chất ma túy thu giữ, đã đủ sức răn đe, phòng ngừa chung.
Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 điều 249 BLHS. Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, cho thấy bị cáo làm nghề trồng trọt, thu nhập thấp và không ổn định, gia đình thuộc hộ nghèo. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Xét về vật chứng trong vụ án:
- Số ma túy tang vật vụ án thu giữ của bị cáo còn lại sau khi giám định là chất Nhà nước Việt nam cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
- Một xe máy của hãng SYM loại xe ANGEL; BKS: 36N2 - 3981, không phát hiện số khung, số máy: VNVA2A-D028129, không có gương chiếu hậu, không có yếm, không có ốp mặt nạ trước, xe đã qua sử dụng, hiện đang được bảo quản tại kho tang vật Chi cục THADS huyện Mường Lát bị cáo dùng làm phương tiện đi mua ma túy. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai: Bố đẻ của bị cáo là ông Sung Văn X, sinh năm 1945 ở bản Cặt, xã Nhi Sơn, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa mua để làm phương tiện đi lại cho cả gia đình, bản thân ông Xá không biết bị cáo lấy xe đi mua ma túy, bị cáo cũng không dấu ma túy trong xe nên trả lại chiếc xe máy có đặc điểm trên cho ông Sung Văn X là phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét về phần án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống trong vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn lại thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí HSST và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các nhận định khác:
Người phụ nữ dân tộc Mông mà bị cáo không rõ tên, tuổi, địa chỉ là người đã bán ma túy cho bị cáo, việc mua bán chỉ có hai người với nhau không có ai chứng kiến. Vì vậy không có căn cứ tiến hành xác minh.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên: Sung Văn P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
Áp dụng: Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm c khoản 1 điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1điều 51 BLHS.
Xử phạt: Bị cáo Sung Văn P:
- Hình phạt chính: 24 (Hai bốn) tháng tù.
- Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (03/7/2019).
Về tang vật: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành ghi vụ Sung Văn P, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Lê Minh Tiến, Phạm Văn Hiếu, Trần Thị Thúy Hằng và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, bên trong có chứa toàn bộ mẫu vật còn lại sau giám định, phong bì niêm phong còn nguyên vẹn.
Trả lại cho ông Sung Văn Xá, sinh năm 1945 ở bản Cặt, xã Nhi Sơn, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa chiếc xe máy của hãng SYM loại xe ANGEL; BKS: 36N2 - 3981, số máy: VNVA2A-D028129, không phát hiện số khung, không có gương chiếu hậu, không có yếm, không có ốp mặt nạ trước, xe đã qua sử dụng.
Vật chứng kể trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa, theo Quyết định chuyển vật chứng số 40/QĐ-VKS-ML, ngày 06/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát và Biên bản giao nhận vật chứng số: 01/2019/TV-CCTHADS ngày 07/10/2019 giữa Công an huyện Mường Lát và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát.
Về án phí: Áp dụng điều 135, điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên: Miễn tiền án phí HSST cho bị cáo .
Quyền kháng cáo, kháng nghị: Căn cứ điều 331, điều 333 và điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Án xử công khai, có mặt bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa; - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa; - VKS nhân dân H.Mường Lát; - VKS nhân dân tỉnh Thanh Hóa; - Công an H. Mường Lát; - Chi cục THADS huyện Mường Lát; - UBND xã Nhi Sơn, H. Mường Lát; - Bị cáo; Người bào chữa cho bị cáo; - Hồ sơ Thi hành án Hình sự; - Lưu Hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Ngô Thị T |