vanban.org

Bản án 42/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 27/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________
Bản án số: 42/2019/HS-ST
Ngày 27/3/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tường Duy Bình và bà Nguyễn Thị Tiện.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Định – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên toà: Bà Mùi Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2019/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Giàng A C, sinh năm 1985, tại huyện T, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng A T và bà Hạng Thị C; bị cáo có vợ là Thào Thị C và có 04 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2018 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 17/12/2018, tổ công tác Đồn biên phòng cửa khẩu L làm nhiệm vụ tại khu vực Km 103 QL 43 thuộc tiểu khu 1/5, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, qua kiểm tra hành chính về ma túy với Giàng A C (Có lý lịch nêu trên) đã phát hiện Giàng A C đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ 01 gói nilon màu hồng bên trong đựng chất bột màu trắng Giàng A C khai là Heroine, 01 gói nilon màu đen bên trong đựng 05 viên nén màu hồng Giàng A C khai là Methamphetamine cất giữ nhằm mục đích để sử dụng;

Tổ công tác đã lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng dẫn giải Giàng A C về Công an huyện M để điều tra làm rõ, tạm giữ của Giàng A C 01 chiếc điện thoại di động hiệu KECHAODA K9 Plus màu đen bạc, bên trong lắp 01 thẻ sim; 01 giấy phép lái xe mô tô, xe máy mang tên Giàng A C.

Ngày 18/12/2018 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M phối hợp với VKSND huyện M và Phòng Kỹ Thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, xác định số lượng, khối lượng số ma túy của Giàng A C, kết quả: 05 viên nén màu hồng có khối lượng 0,48 gam, lấy 02 viên có khối lượng 0,18 gam làm mẫu giám định ký hiệu “C1”. Số chất bột màu trắng có khối lượng 0,45 gam, lấy 0,1 gam làm mẫu giám định ký hiệu “C2”. Cơ quan Công an huyện M ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.

Tại kết luận giám định số: 101 ngày 19/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu C1 là ma túy, loại chất Methamphetamine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,18 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu C2 là ma túy, loại chất Heroine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,1 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,48 gam loại Methamphetamine và 0,45 gam loại Heroine.

Quá trình điều tra Giàng A C khai nhận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 17/12/2018, Giàng A C một mình đi bộ theo đường biên giới Việt Nam – Lào mục đích đến nhà anh Hà Văn P, trú tại: Tiểu khu 1/5, xã C, huyện M để thăm vợ, con đang điều trị bệnh tại nhà anh P. Khi C đi tới địa phận bản B, xã L, huyện M thì gặp một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết, C hỏi và mua được 01 gói nilon màu hồng bên trong đựng Heroine và 01 gói nilon màu đen bên trong đựng 05 viên Methamphetamine với giá 350.000đ, sau khi nhận ma túy C xin người phụ nữ đó một mảnh nilon màu đen rồi gói chung gói nilon màu hồng đựng Heroine và gói nilon màu đen đựng Methamphetamine thành 01 gói, sau đó C cất giấu vào túi áo khoác bên phải đang mặc rồi tiếp tục đi bộ đến nhà anh P. Khi C đi đến khu vực Km 103 QL 43 thuộc tiểu khu 1/5, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La thì gặp tổ công tác Đồn biên phòng Cửa khẩu L phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Về nguồn gốc ma túy Giàng A C khai mua của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết với số tiền 350.000 đồng. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Bản cáo trạng số: 41/CT-VKSMC ngày 12 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo Giàng A C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M giữ nguyên quan điểm truy tố Giàng A C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Tuyên bố Giàng A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Giàng A C từ 18 tháng đến 21 tháng tù;

Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,30 gam Methamphetamine và 0,35 gam Heroine cùng với vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Giàng A C.

Tạm giữ của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu KECHAODA K9 Plus màu đen bạc, bên trong lắp 01 thẻ sim, điện thoại cũ đã qua sử dụng để đảm bảo cho việc thi hành án về phần án phí.

3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà bị cáo Giàng A C thừa nhận: Hồi 13 giờ 30 phút ngày 17/12/2018 Giàng A C đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,45 gam và 05 viên Methamphetamine có khối lượng 0,48 gam. Căn cứ Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, thì tổng khối lượng 02 chất ma túy là Heroine và Methamphetamine thu giữ của Giàng A C là 0,45 gam + 0,48 gam = 0,93 gam với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Kết luận giám định.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Giàng A C đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa thấy rằng bị cáo không có tài sản nên không phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo theo quy định của khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,30 gam Methamphetamine và 0,35 gam Heroine cùng với vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Giàng A C, là vật Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu KECHAODA K9 Plus màu đen bạc, bên trong lắp 01 thẻ sim. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay xác định là tài sản của bị cáo. Không liên quan đến việc phạm tội. Do đó cần tuyên tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

Đối với 01 giấy phép lái xe mô tô, xe máy mang tên Giàng A C là giấy tờ của bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã giao trả cho bị cáo là đúng quy định của pháp luật, do đó cần chấp nhận.

Đối với người phụ nữ dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo như bị cáo khai. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này do đó không có căn cứ để điều tra xử lý.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.

Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn trên 45 ngày, Hội đồng xét xử không ra quyết định tạm giam đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng A C 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 17/12/2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Giàng A C, bắt ngày 17/12/2018: Bên trong đựng 0,30 gam Methamphetamine và 0,35 gam Heroine cùng với vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy của Giàng A C, ngày 17/12/2018. KQ: Dương tính. Bên trong đựng test ma túy của Giàng A C.

Chấp nhận việc Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã trả cho bị cáo 01 giấy phép lái xe mô tô, xe máy mang tên Giàng A C.

Tạm giữ của bị cáo Giàng A C: 01 điện thoại di động nhãn hiệu KECHAODA K9 Plus màu đen bạc, bên trong lắp 01 thẻ sim, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Để đảm bảo cho việc thi hành án về phần án phí.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Giàng A C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 27/3/2019.

Cỡ chữ