- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hiếu V tàng trữ trái phép chất ma túy - Bị truy tố tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hiếu V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2019/HS-ST Ngày: 30-8-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NH N D N THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bé Mƣời
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Thanh Vũ và bà Ngô Thị Mỹ Lợi
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- i di n Vi n ki m sát nhân dân thành ph Sa éc tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2019/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hiếu V, sinh năm 1997
Tại huyện P, tỉnh Đồng Tháp
Nơi cư trú: Ấp K, xã Q, huyện P, tỉnh Đồng Tháp
Chỗ ở: Phòng trọ B02, nhà trọ G, khóm X, phường D, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp
Nghề nghiệp: Không;
Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12
Dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam
Con ông: Nguyễn Thanh N, sinh năm 1964 (chết) và bà Nguyễn Thị T, không rõ năm sinh
Vợ, con: Chưa có
Tiền án, tiền sự: Không.
Tạm giữ: ngày 12/6/2019 đến ngày 15/6/2019 được tại ngoại.
Hiện bị cáo tại ngoại; áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
+ Chị Bùi Thị Thu T1, sinh năm 1990 (có mặt)
Nơi cư trú: Phường B, thành phố R, tỉnh Bình Thuận
Chỗ ở: Phòng trọ B02, nhà trọ G, khóm X, phường D, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp
+ Anh Trần Đình Phƣơng, sinh năm 1975 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khóm X, phường D, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 22 giờ ngày 11/6/2019, Công an thành phố Sa Đéc tiến hành kiểm tra hành chính nhà trọ G tọa lạc khóm X, phường D, thành phố S.
Tại phòng trọ số B02, Nguyễn Hiếu V và Bùi Thị Thu T1 đang thuê ở. Khi V phát hiện lực lượng Công an kiểm tra phòng trọ thì V khóa cửa phòng trọ và cầm bịch nylon chứa ma túy đang để trên bàn đi ra phía sau ném qua lổ thông gió của phòng trọ, bịch ma túy rơi qua vườn kiểng của hộ số 12B, khóm X, phường D, thành phố S.
Lúc này, Công an yêu cầu V mở cửa phòng, Công an kiểm tra thu giữ trong phòng của V gồm:
- 01 bình thủy tinh tự chế dùng để sử dụng ma túy;
- 01 ống thủy tinh uốn cong một đầu;
- 02 cây kéo bằng kim loại;
- 10 bịch nylon màu trắng có nắp kẹp một đầu viền xanh bên trong không chứa gì;
- 01 điện thoại di động hiệu iPhone màu đồng;
- Số tiền 1.900.000 đồng;
- 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 66V1-613.87;
- 01 bịch nylon chứa tinh thể màu trắng do V ném qua lổ thông gió rơi tại vườn kiểng của hộ số 12B.
Ngoài ra, Công an thu giữ của T1 01 điện thoại di động hiệu Oppo A3S màu đỏ.
Tại kết luận giám định số 462/KL-KTHS ngày 13/6/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận:
- Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon màu trắng dạng nắp kẹp một đầu có viền màu xanh để trong 01 bịch nylon màu trắng hàn kín dạng nắp kẹp một đầu có viền màu đỏ được niêm phong trong phong bì gửi đến giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,955 gam loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, V khai bịch ma túy trên là của một người bạn tên P1 (không rõ họ tên, địa chỉ) ở Thành phố Hồ Chí Minh ghé phòng trọ của V chơi và cho V sử dụng.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu iPhone, số tiền 1.900.000 đồng, 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 66V1-613.87 của bị cáo V, 01 điện thoại di động hiệu Oppo A3S của chị T1, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo V nên cơ quan điều tra đã trao trả cho V và T1 nhận lại xong.
Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKSND-TPSĐ ngày 12/8/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc đã truy tố bị cáo Nguyễn Hiếu V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc trong phần tranh luận đã giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị:
- Về hình phạt chính: p dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hiếu V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Ngoài ra, Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng và các vấn đề khác theo quy định pháp luật.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến bào chữa, tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.
Người làm chứng không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang được lập lúc 23 giờ ngày 11/6/2019 của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự - kinh tế - ma túy Công an thành phố Sa Đéc, phù hợp với vật chứng đã thu giữ được, phù hợp với kết luận giám định số 462/KL-KTHS ngày 13/6/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Qua đó đủ cơ sở xác định: Vào lúc 22 giờ ngày 11/6/2019 tại phòng trọ số B02 nhà trọ G tọa lạc khóm X, phường D, thành phố S, Công an thành phố Sa Đéc kiểm tra và bắt quả tang Nguyễn Hiếu V có hành vi cất giấu, tàng trữ ma túy có khối lượng 0,955 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng.
Theo Danh mục II ban hành kèm Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ thì Methamphetamine là một trong những chất ma túy, chất hướng thần độc hại, bị cấm sử dụng trái phép, các chất này chỉ được sử dụng trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm, trong l nh vực y tế và phải theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền.
Bị cáo là người đã thành niên nên có đầy đủ năng lực hành vi và nhận thức được rằng ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần, là chất độc hại. Nhà nước nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng trái phép , vì ma túy s làm ảnh hưởng đến tinh thần, sức khỏe, ý chí phấn đấu của người sử dụng. Thế nhưng, do tư tưởng xấu, không biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, nên bị cáo đã có hành vi cất giấu ma túy tại phòng trọ số B02 nhà trọ G để sử dụng thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ ma túy. Vật chứng bị thu giữ là Methamphetamine có tổng khối lượng là 0,955 gam.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Hành vi đó là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác như: trộm cắp, cướp giật, góp phần làm gia tăng tệ nạn nghiện ngập ma túy trong xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Thủ đoạn thực hiện tội phạm của bị cáo là hết sức táo bạo và liều l nh: tuy thời gian phạm tội tuy vào ban đêm nhưng địa điểm phạm tội là tại phòng trọ số B02 nhà trọ G tọa lạc khóm X, phường D, thành phố S, thường xuyên có khách ra vào thuê phòng và có lực lượng chức năng kiểm tra, nếu tàng trữ ma túy sử dụng s dễ bị phát hiện và bị bắt, nhưng bị cáo không sợ sệt, không sợ bị phát hiện. Khi Công an tiến hành kiểm tra nhà trọ thì bị cáo đã khóa cửa phòng trọ rồi ném ma túy ra bên ngoài phòng trọ nhằm che dấu hành vi phạm tội của bản thân, sau đó bị phát hiện và bị bắt, chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, động cơ mục đích phạm tội nhằm để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân.
Bị cáo là thanh niên, tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe, l ra bị cáo phải biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, cố gắng lao động để tạo ra của cải phục vụ cho nhu cầu bản thân. Tuy nhiên với lối sống thích hưởng thụ, chỉ biết sống cho bản thân, bị cáo đã sử dụng ma túy và trở thành đối tượng nghiện nên bị cáo đã cất giấu ma túy ở phòng trọ số B02 nhà trọ G để sử dụng thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang để rồi đi vào con đường phạm tội.
Từ những phân tích trên cho thấy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuy n, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị ph t tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) ………
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có kh i lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
d)…………”
Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội. Bị cáo nhận tội, không tranh luận, không bào chữa. Xét thấy, phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử lý nghiêm, bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, tu dưỡng bản thân, có ý thức chấp hành pháp luật, nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có cha ruột là thương binh loại A, thương tật hạng 3/4, vì vậy cần áp dụng Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bình thủy tinh tự chế, 01 ống thủy tinh uốn cong một đầu, 02 cây kéo bằng kim loại, 10 bịch nylon màu trắng có nắp kẹp một đầu viền màu xanh, 01 phong bình niêm phong ghi số 470 ngày 12/6/2019 có đóng dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Hiếu V và giám định viên Lê Minh Vương, Bùi Văn Duẩn và điều tra viên Nguyễn Quang Vinh cần tịch thu tiêu hủy.
(Hiện các vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc đang quản lý).
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hiếu V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Đối với bị cáo V khai khối lượng ma túy bị thu giữ là của một người bạn tên P1 ở Thành phố Hồ Chí Minh (không rõ họ tên, địa chỉ) cho V cất giấu để sử dụng, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hiếu V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hiếu V mức án 01 năm 06 tháng tù (Một năm sáu tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Khoản 1, Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 phong bình niêm phong ghi số 470 ngày 12/6/2019 có đóng dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Hiếu V và giám định viên Lê Minh Vương, Bùi Văn Duẩn và điều tra viên Nguyễn Quang Vinh;
- Hộp niêm phong bên ngoài dán giấy trắng có đóng dấu tròn màu đỏ của Công an thành phố Sa Đéc, có chữ ký xác nhận của Nguyễn Hiếu V ghi ngày 15/6/2019 bên trong gồm: 01 bình thủy tinh tự chế dùng để sử dụng ma túy, 01 ống thủy tinh uốn cong một đầu dùng để sử dụng ma túy, 02 cây kéo bằng kim loại, 10 bịch nylon màu trắng có nắp kẹp một đầu viền màu xanh.
(Hiện vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/8/2019).
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án năm 2016
Bị cáo Nguyễn Hiếu V nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh ĐT; (1b) - VKSND TP Sa Đéc; (2b) - Công an TP Sa Đéc; (4b) - Chi cục THA TP Sa Đéc; (1b) - Sở Tư pháp; (1b) - Thi hành án phạt tù; (1b) - Những người tham gia tố tụng; (1b) - Lưu VT, TP; (2b) - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Bé Mƣời |