- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Đ (Tên gọi khác: Cu Đ), phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2019/HS-ST Ngày 26 - 6 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Huy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Kiệt;
2. Ông Hoàng Phúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Lê Duy Dũng- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2019, tại Nhà văn hóa Khu phố 2, phường Đông Lương, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2019 và Thông báo số: 01/TB-TAHS ngày 13 tháng 6 năm 2019 về việc thay đổi thời gian và địa điểm mở phiên tòa, đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh Đ (Tên gọi khác: Cu Đ), sinh ngày 21 tháng 01 năm 1989, tại Quảng Trị; Trú tại: Khu phố N, Phường B, thị xã Qu, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Nhân viên nhà nghỉ; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Thanh B (đã chết) và bà Trần Thị G, sinh năm: 1959; Vợ Nguyễn Thị M, sinh năm: 1989, có 03 con. Lớn nhất sinh năm: 2009, nhỏ nhất sinh năm: 2018.
- Tiền án, tiền sự: Không;
- Nhân thân:
Ngày 21 tháng 5 năm 2010, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị, xử phạt Nguyễn Thanh Đ 18 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”;
- Ngày 26 tháng 8 năm 2010, Phòng PC45 Công an tỉnh Quảng Trị, xử phạt Nguyễn Thanh Đ 500.000 đồng về hành vi “Sử dụng điện thoại báo thông tin giả trong lĩnh vực phòng chống tội phạm”;
- Ngày 21 tháng 3 năm 2014, Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, xử phạt Nguyễn Thanh Đ 02 năm tù về tội: “Cố ý gây thương tích” và 4 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội danh buộc Đ phải chấp hành hình phạt chung là 2 năm 04 tháng tù; Ngày 16 tháng 8 năm 2015, Đ chấp hành xong hình phạt.
Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 07 tháng 12 năm 2018 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam- Công an tỉnh Quảng Trị. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 07 tháng 12 năm 2018, Nguyễn Thanh Đ sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung có số thuê bao 0358110206 gọi cho một nam thanh niên tên M (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua ma túy hồng phiến để sử dụng. Người thanh niên tên M đồng ý bán và hẹn gặp Đ tại quán Cà phê “Ngộ” ở thị trấn Cam L, huyện Cam L , tỉnh Quảng Trị. Sau khi thống nhất địa điểm, Đ gọi xe taxi biển kiểm soát 74A-088.09 (thuộc hãng taxi Lê) do anh Hà Văn K; Trú tại: Khu phố H, Phường M, thị xã Qu điều khiển chở Đ lên thị trấn Cam L. Khi đến quán cà phê Ngộ, Đ bảo anh K ngồi ở xe để đợi, còn Đ đi vào quán. Tại đây, Đ đưa cho M 3.100.000 đồng và nhận lại 01 bao ni long màu trắng bên trong có một bao ni long màu xanh chứa 101 viên ma túy tổng hợp loại hồng phiến (gồm 99 viên màu hồng, 02 viên màu xanh). Sau khi mua được ma túy, Đ cất giấu trong người rồi đi ra xe bảo anh K chở về lại thị xã Qu. Trên đường đi, Đ lấy gói ma túy trong người giấu vào hốc cánh cửa xe ô tô phía trước, bên phụ, sát vị trí Đ đang ngồi. Khi xe đi đến khu vực giao nhau giữa đường H và đường Điện B, thuộc khu phố Tân V, phường Đông L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị thì bị Công an thành phố Đông Hà bắt quả tang.
- Tại bản Kết luận giám định số: 54/KLGĐ ngày 13/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: 99 viên nén màu hồng và 02 viên nén màu xanh thu giữ của Nguyễn Thanh Đ là ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 9,6206 gam.
- Cáo trạng số: 37/CT-VKSĐH ngày 10 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Đ về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát: Giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Đ phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt Nguyễn Thanh Đ từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm tù.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung
Trả lại cho Đ 500.000 đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam và 01 điện thoại di động hiệu Nokia nhưng tạm giữ 500.000 đồng để đảm bảo cho công tác thi hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hoạt động tố tụng: Quá trình điều tra- truy tố- xét xử: Cơ quan tiến hành tố tụng- người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng hình sự trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử; bị cáo đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh Đ không có ý kiến hoặc khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng- người tiến hành tố tụng.
Nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi bị cáo cất giữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng xảy ra vào lúc khoảng 14 giờ ngày 07 tháng 12 năm 2018. Lời khai nhận tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đó là: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định đối với đồ vật thu giữ. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 07 tháng 12 năm 2018, tại khu vực giao nhau giữa đường H và đường Điện B, thuộc khu phố Tân V, phường Đông L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, Nguyễn Thanh Đ có hành vi cất giữ 101 viên ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng: 9,6206 gam với mục đích sử dụng nên hành vi nêu trên của Nguyễn Thanh Đ đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước mà còn gây mất trật tự an ninh ở địa phương nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng, ngừa và đẩy lùi loại tội phạm này hiện đang có chiều hướng gia tăng trên địa bàn thành phố Đ. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình nền cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tội phạm mà Đ gây ra trong vụ án này. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhân thân xấu nên việc không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội; ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Để đáp ứng nhiệm vụ chính trị trên địa bàn thành phố Đ “Đẩy lùi tệ nạn ma túy” cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là có căn cứ và cần thiết.
Đối với thời gian bị cáo bị tạm giữ sau đó chuyển tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành án.
Đối với hành vi bán ma túy của 01 nam thanh niên tên M, Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp nghiệp vụ nhưng vẫn chưa có kết quả nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng:
- Ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT10 có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màn hình cảm ứng màu đen, số Imei1: 356825073365744/01, số Imei2: 356850073365742/01, có các số thuê bao 0358110206 và 0387946526 thuộc quyền sở hữu của Nguyễn Thanh Đ . Đ đã sử dụng làm phương tiện phạm tội “Liên lạc mua ma túy để sử dụng” nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- 500.000 đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu tím, số Imei: 356359/05/628/113/2 thuộc quyền sở hữu của Nguyễn Thanh Đ, không liên quan đến vụ án nên phải trả lại cho Đ nhưng cần tạm giữ 500.000 đồng để đảm bảo cho công tác thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Đ (Tên gọi khác: Cu Đ), phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Nguyễn Thanh Đ: 06 năm 06 tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày bị tạm giữ sau đó chuyển tạm giam là ngày 07 tháng 12 năm 2018.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c, khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT10 có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màn hình cảm ứng màu đen, số Imei1: 356825073365744/01, số Imei2: 356850073365742/01, có các số thuê bao 0358110206 và 0387946526.
- Trả lại cho Nguyễn Thanh Đ: 500.000 đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu tím, số Imei: 356359/05/628/113/2.
Tạm giữ 500.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
Vật chứng nêu trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 5 năm 2019, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đông Hà với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Đông Hà; - Bị cáo; - VKSND tỉnh Q.Trị; - Phòng GĐKT TAND tỉnh Q.Trị; - Công an thành phố Đông Hà; - Chi cục THADS thành phố Đông Hà; - Lưu: Hồ sơ vụ án và Tập án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Huy |