vanban.org

Bản án 42/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 30/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Trần Quốc T cho Ủy ban nhân dân xã BT, huyện TB, tỉnh ĐT giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp Ủy b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Quốc T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BÌNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2019/HS-ST
Ngày 30 – 10 – 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Võ Văn Hồng Biên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Liệt

Bà Nguyễn Thị Thanh Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Xuân Nữ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhàn - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2019/TLST-HS, ngày 09 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Quốc T, sinh năm 1994, tại tỉnh Đồng Tháp.

Nơi cư trú: Ấp 4, xã BT, huyện TB, tỉnh ĐT; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 và bà Trần Thu H; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang tại ngoại (Có mặt).

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1943 (đã chết).

Nơi cư trú: Ấp BT, xã BTh, huyện TB, tỉnh ĐT.

Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn V: Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1978, nơi cư trú: Ấp BT, xã BTh, huyện TB, tỉnh ĐT (là con ruột của ông V, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trần Văn T1, sinh năm 1963 (Có mặt).

2. Bà Trần Thu H, sinh năm 1966 (Có mặt).

Cùng nơi cư trú: Ấp 4, xã BT, huyện TB, tỉnh ĐT.

- Người làm chứng:

1. Ông Trần Văn H1, sinh năm 1965 (Có mặt).

Nơi cư trú: Ấp 4, xã BT, huyện TB, tỉnh ĐT.

2. Bà Hồ Thị N, sinh năm 1970 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp 4, xã BT, huyện TB, tỉnh ĐT.

3. Ông Lê Văn H2, sinh năm 1963 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp 4, xã BT, huyện TB, tỉnh ĐT.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 05 giờ ngày 18/6/2019, bị cáo Trần Quốc T điều khiển xe mô tô biển số 66B1-305.37 lưu thông hướng từ xã BT đi xã BTh, khi đến đoạn đường thuộc ấp BT, xã BTh, huyện TB, do điều khiển xe mô tô với tốc độ cao (khoảng 60km/h), thiếu chú ý quan sát, không kịp xử lý đã va chạm vào xe đạp do ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1943, cư trú ấp BT, xã BTh, huyện TB điều khiển chạy cùng chiều phía trước. Hậu quả: Ông V bị thương nặng vùng đầu, chân trái chảy nhiều máu và bất tỉnh được ông Trần Văn H1 và bị cáo T đưa đến Trạm y tế xã BT cấp cứu nhưng đã tử vong. Bị cáo T bị thương chân phải, tay phải.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Đoạn đường xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng, tầm nhìn thông thoáng, mặt đường được trải nhựa bê tông bằng phẳng, chiều rộng mặt đường là 06 mét; đường hai chiều, có vạch kẻ tim đường không liên tục, không có cọc tiêu hay biển báo hiệu đường bộ; vùng va chạm giữa xe mô tô biển số 66B1-305.37 và xe đạp màu trắng nằm trên phần đường bên phải hướng đi xã BT đến xã BTh, cách lề đường bên trái theo hướng đi của xe mô tô biển số 66B1-305.37 là 4m85.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 503/KL-KTHS ngày 25/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Ông Nguyễn Văn V bị chấn thương vùng đầu làm nứt vỡ sọ, gây dập và xuất huyết não là nguyên nhân gây tử vong.

Tại Bản Kết luận giám định số: 508/KL-KTHS, ngày 26/6/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận trong máu của Trần Quốc T, tại thời điểm giám định ngày 23/6/2019 không phát hiện thành phần cồn (Ethanol).

Về vật chứng tạm giữ gồm:

+ 01 xe mô tô biển số 66B1-305.37, nhãn hiệu YAMAHA, số loại: EXCITER, màu sơn trắng – đỏ; số máy G3D4E-252951; số khung 0610GY240039 (đã qua sử dụng) do Trần Quốc T đứng tên chủ sở hữu; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 66B1-305.37, do Công an huyện Thanh Bình cấp ngày 27/4/2016. Hiện nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Bình đã trả cho Trần Quốc T xong.

+ 01 xe đạp màu trắng (đã qua sử dụng). Hiện nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Bình đã trả cho ông Nguyễn Văn T2 là con ruột của ông Nguyễn Văn V xong.

+ 01 giấy phép lái xe hạng A1 số: 870124000204 mang tên Trần Quốc T, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 19/12/2012. Hiện nay, Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình đã trả lại cho bị cáo Trần Quốc T xong.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Văn T1 và bà Trần Thu H là cha, mẹ ruột của bị cáo T đã tự nguyện hỗ trợ bồi thường số tiền 100.000.000 đồng chi phí mai táng và tổn thất cho gia đình bị hại. Anh Nguyễn Văn T2 là con ruột của ông Nguyễn Văn V, được sự ủy quyền của mẹ và các anh chị em ruột đã nhận xong số tiền bồi thường 100.000.000 đồng. Hiện nay, gia đình anh Nguyễn Văn T2 không yêu cầu bồi thường thêm về dân sự, đồng thời có đơn xin bãi nại, không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo T.

Đối với số tiền 100.000.000 đồng đã bồi thường cho gia đình bị hại thì ông T1, bà H không yêu cầu bị cáo T trả lại.

Tại Bản Cáo trạng số: 40/CT-VKS-TB ngày 07 tháng 10 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình truy tố bị cáo Trần Quốc T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình giữ nguyên Cáo trạng truy tố, phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Quốc T từ 12 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 36 tháng. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên như phần Quyết định của Cáo trạng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T1, bà Trần Thu H trình bày: Gia đình đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo trả lại. Hiện nay gia đình bị cáo gặp khó khăn về kinh tế xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.

Trong phần tranh luận, bị cáo Trần Quốc T thống nhất với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bị cáo Trần Quốc T nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi gia đình bị hại, bị cáo đã ăn năn, hối cải đối với hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, lo cho vợ và 02 con, lo cho người thân và trở thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi của mình như sau:

Vào khoảng 05 giờ ngày 18/6/2019, bị cáo Trần Quốc T điều khiển xe mô tô biển số 66B1-305.37 lưu thông hướng xã BT đi xã BTh, khi đến đoạn đường thuộc ấp BT, xã BTh, huyện TB, do điều khiển xe mô tô với tốc độ cao (khoảng 60km/h), thiếu chú ý quan sát, không kịp xử lý đã va chạm vào xe đạp do ông Nguyễn Văn V.

Hậu quả: Ông V bị thương nặng vùng đầu, chân trái chảy nhiều máu và bất tỉnh được đưa đến Trạm y tế xã BTh cấp cứu nhưng đã tử vong.

Bị cáo T thống nhất với Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 503/KL-KTHS ngày 25/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Ông Nguyễn Văn V bị chấn thương vùng đầu làm nứt vỡ sọ, gây dập và xuất huyết não là nguyên nhân gây tử vong.

Bị cáo T thống nhất với Bản Kết luận giám định số: 508/KL-KTHS, ngày 26/6/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận trong máu của Trần Quốc T, tại thời điểm giám định ngày 23/6/2019 không phát hiện thành phần cồn (Ethanol).

Như vậy, hành vi của bị cáo đã vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ. Bị cáo T nhận thức được việc điều khiển phương tiện giao thông với tốc độ vượt quá mức quy định là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn điều khiển xe số 66B1-305.37 với tốc độ cao, thiếu chú ý quan sát, không kịp xử lý đã gây tai nạn giao thông làm chết người. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự.

Với những phân tích nêu trên, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Quốc T đã vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ và phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Xét thấy, hành vi của bị cáo T đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an toàn trật tự giao thông đường bộ. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hậu quả đã được khắc phục xong, gia đình bị hại có đơn xin bãi nại, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự và có nơi cư trú rõ ràng. Từ đó cho thấy, bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Cho nên, việc bị cáo hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đã đủ để bị cáo cải tạo trở thành người tốt, trở thành một công dân có ích cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Do bị hại Nguyễn Văn V, sinh năm 1943 (76 tuổi) nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo T đã tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại với số tiền 100.000.000 đồng; gia đình bị hại có đơn bãi nại và không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo; gia đình bị cáo gia đình bị cáo gặp khó khăn về kinh tế. Vì vậy, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đã thỏa thuận xong, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về vật chứng: Đã giải quyết xong, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình về khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng là có căn cứ chấp nhận.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Trần Quốc T cho Ủy ban nhân dân xã BT, huyện TB, tỉnh ĐT giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp Ủy ban nhân dân xã BT, huyện TB, tỉnh ĐT trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo Trần Quốc T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Quốc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ