vanban.org

Bản án 42/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 12/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn L phạm tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hồ Văn L 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 18/7/2019. Về án phí: Căn cứ khoản 2 - Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; áp dụng điểm a – khoản 1 - Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mứ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Văn L phạm tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” - phạm tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (điều 355 Luật…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn L phạm tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NÔ
TỈNH ĐĂK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2019/HS-ST
Ngày 12-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tím.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Châu; Ông Phạm Đình Bông.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Đình Hội – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên toà: Bà Nguyễn V Hồng Hoa– Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2019/HSST ngày 25 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2019/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Hồ Văn L, sinh ngày 01/7/1988, tại tỉnh Đăk Nông; nơi cư trú: thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: Cán bộ địa chính; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn C và bà Lê Thị A; vợ là Nguyễn Thị Thùy L; Tiền án: không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 14/9/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông xử phạt 10 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với hành vi xảy ra vào tháng 7/2017 và tháng 9/2017, bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án; bị tạm giam từ ngày 18/7/2019 - Có mặt.

- Bị hại:

1. Bà Võ Thị H, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.

2. Ông Trần Vi V, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trương Tấn S, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.

2. Bà Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Trần Văn N, sinh năm 1969; Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.

2. Ông Bùi Thanh Quang, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.

3. Ông Trần Quang Bảy, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2013, UBND tỉnh Đăk Nông có chủ trương thu hồi đất tại Bon C, xã Đ, huyện K để xây dựng thao trường tổng hợp của lực lượng Vũ trang tỉnh Đăk Nông. Để ổn định đời sống của các hộ dân, UBND tỉnh đã giao cho UBND huyện Krông Nô thực hiện dự án cấp 300 ha đất tái canh cho các hộ dân có đất bị thu hồi mà thiếu đất sản xuất. Quá trình thực hiện dự án này , UBND xã Đ đượ c giao trá ch nhiệ m xé t cấ p đấ t cho cá c hộ dân đủ điề u kiệ n theo chủ trương củ a UBND huyệ n Krông Nô.

Sau đó , UBND xã Đ đã thà nh lậ p hộ i đồ ng xé t cấ p đấ t tá i canh , Hồ Văn L lúc này đang là cán bộ địa chính tại UBND xã Đ đượ c phân công là phó chủ tị ch hộ i đồ ng. Sau quá trì nh họ p xé t, ngày 10/11/2014, UBND xã Đ đã ban hà nh Tờ trì nh số 67/TTr-UBND “V/v đề nghị cấ p đấ t tá i canh cho cá c hộ gia đì nh , cá nhân bị thu hồ i đấ t trong khu vự c xây dự ng trườ ng bắ n củ a LLVT tỉ nh Đắ k Nông tạ i xã Đ ” để đề nghị UBND huyện cấp đất tái canh cho 42 hộ , kèm theo tờ trình là danh sách 42 hộ đượ c đề nghị và danh sá ch 31 hộ cũ ng bị thu hồ i đấ t nhưng không đủ điề u kiệ n để cấp đất tái canh. Sau đó , mộ t số hộ dân không đủ điề u kiệ n kiế n nghị lên UBND xã Đ để được cấp đất tái canh do diện tích đất còn lại của họ ở vị trí ngập úng , sạt lở , đồ i đá không thể canh tá c đượ c. Vì vậy, UBND xã Đ tổ chứ c họ p xé t lạ i đố i vớ i 31 hộ đã bị loạ i trướ c đó và ban hà nh tờ trì nh số 20/TTr-UBND ngà y 17/3/2015 “V/v đề nghị cấ p đấ t tá i canh cho cá c hộ gia đì nh, cá nhân bị thu hồi đất trong khu vự c xây dự ng trườ ng bắ n củ a LLVT tỉ nh Đắ k Nông tạ i xã Đ” đề nghị UBND huyện cấ p đấ t tá i canh cho 21 hộ trong số 31 hộ bị loạ i ra trướ c đó (trong danh sá ch nà y có hộ bà Võ Thị H và ông Trần Vi V ). Tuy nhiên , UBND huyệ n Krông Nô không đồ ng ý phê duyệ t đố i vớ i nhữ ng trườ ng hợ p do UB ND xã đề nghị tạ i tờ trì nh số 20/TTr-UBND ngà y 17/3/2015 do theo hồ sơ đị a chí nh thì nhữ ng trườ ng hợ p nà y vẫ n cò n đấ t sả n xuấ t trên 01ha, nhưng UBND huyệ n chưa trả lờ i bằ ng văn bản về việ c nà y. Vào khoảng năm 2016, sau thờ i gian chờ đợ i mà không thấ y đượ c cấ p đấ t tái canh chị Võ Thị H đến nhà Hồ Văn L tại thôn X, xã Đ để nhờ L giúp cấp đất tái canh cho gia đì nh mì nh. Sau đó , chị Võ Thị H đã đưa cho Lẹ 02 lầ n vớ i tổ ng số tiền 15.000.000 đồ ng để L giúp cấp đất tái canh cho gia đình mình . Mặ c dù biế t UBND huyệ n không đồ ng ý phê duyệ t cấ p đấ t tá i canh cho hộ bà Võ Thị H , nhưng ngà y 21/01/2017 (tứ c ngà y 24/12/2016 âm lị ch) Hồ Văn L đã dẫ n chồ ng chị H là anh Trương Tấ n S đến khu vực 300ha bố trí cấ p đấ t tá i canh thuộ c Bon C , xã Đ, huyệ n K và chỉ cho anh S 01 lô đấ t có diệ n tí ch hơn 01ha, vị trí các mặt tiếp giáp thuộc khoảnh 6, tiể u khu 1037, xã Đ để gia đình anh S , chị H canh tá c. Vì tin tưởng đất này do nhà nước cấp đất tái canh nên anh S , chị H đã canh tá c và trồ ng cây cà phê trên diệ n tí ch nà y.

Trong quá trì nh điề u tra cò n xá c đị nh , vào cùng khoảng thời gian này anh Trần Vi V cũng biết mình có tên trong danh sách được đề nghị cấp đất tái canh nên có đến nhà Hồ Văn L để nhờ L giúp mình được cấp đất tái canh và có đề cập đến vấn đề tiền bạc nhưng không nó i cụ thể là bao nhiêu tiề n . Mặ c dù biế t UBND huyệ n không đồ ng ý phê duyệ t cấ p đấ t tá i canh cho hộ ông Trầ n Vi V nhưng khoả ng đầ u năm 2017, L đã dẫ n Trầ n Vi V đến khu vực 300ha bố trí cấ p đấ t tá i canh thuộ c Bon C, xã Đ, huyệ n K và chỉ cho anh V 01 lô đấ t diệ n tí ch khoả ng 01ha, vị trí các mặt tiế p giá p thuộ c khoả nh 6, tiể u khu 1037, xã Đ để gia đình anh V canh tá c. Anh V cũng tin tưởng diện tích đất này nhà nước cấp đất tái canh nên anh V đã phá t dọ n và sau đó bá n lạ i cho Chang Văn Đ vớ i giá 70.000.000 đồ ng. Khi bá n đấ t có tiề n, V đã đưa cho L 5.000.000 đồ ng do L đã giú p cấ p đấ t tá i canh cho mì nh.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Trần Vi V và bà Võ Thị H không yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.

Cáo trạng số: 52/CT-VKS ngày 24/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô đã truy tố bị cáo Hồ Văn L về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” theo quy đị nh tạ i điểm c khoản 2 Điề u 355 của Bộ luậ t hì nh sự .

Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hồ Văn L phạm tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”; Áp dụng điểm c khoản 2 Điề u 355; các điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hồ Văn L từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam.

Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên không đề cập.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Nô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

. Hồ Văn L là cán bộ địa chính xã Đ được giao nhiệm vụ Phó chủ tịch hội đồng xét duyệt để cấp đất tái canh. L biết gia đình bà Võ Thị H và gia đình ông Trần Vi V không được UBND huyện Krông Nô phê duyệt cấp đất tái canh trong dự án 300 ha đất tái canh cho các hộ dân có đất bị thu hồi để xây dựng thao trường tổng hợp của lực lượng vũ trang tỉnh Đăk Nông. Tuy nhiên năm 2016 L đã lợi dụng mình là cán bộ địa chính và phó chủ tịch hội đồng xét cấp đất tái canh để đồng ý giúp bà H, ông V được cấp đất tái canh. L dẫn chồng bà H là ông Trương Tấn S và ông V đến khu vực 300 ha đất tái canh thuộc khoảnh 6, tiểu khu 1037, xã Đ chỉ cho mỗi gia đình một lô đất để canh tác làm gia đình bà H, ông V tin là họ được nhà nước cấp đất tái canh nên bà Võ Thị H đã đưa cho L 15.000.000 đồng, ông Trần Vi V đưa cho L 5.000.000 đồng . Như vậy, hành vi của Hồ Văn L bị Viện kiểm sát nhân huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông truy tố về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” theo quy đị nh tạ i điểm c khoản 2 Điề u 355 của Bộ luậ t hì nh sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.

Điều 355 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 06 năm:…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 năm đến 13 năm: …

c) Phạm tội 02 lầ n trở lên;”

. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và nhân thân của bị cáo:

3.1. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức; làm cho cơ quan, tổ chức bị suy yếu, mất uy tín, mất lòng tin của nhân dân vào chính quyền. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống; đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

3.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản anh Sùng A T và anh Dương Văn P, bị cáo đã tự khai nhận hành vi lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản của bà H, ông V; bị cáo đã bồi thường cho bà Võ Thị H số tiền 10.000.000 đồng để khắc phục hậu quả; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử có căn cứ để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật.

. Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại ông Trần Vi V không có yêu cầu bồi thường nên không đề cập.

Bị cáo đã tự nguyện tác động gia đình bồi thường bị hại bà Võ Thị H 10.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, tại phiên tòa bà H không yêu cầu bồi thường thêm nên không đề cập.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 - Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn L phạm tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điề u 355; các điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hồ Văn L 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 18/7/2019.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 - Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; áp dụng điểm a – khoản 1 - Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án.

Buộc bị cáo Hồ Văn L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án cấp trên yêu cầu xét xử phúc thẩm

Cỡ chữ