vanban.org

Bản án 42/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 28/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội “Buôn bán hàng cấm".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn L 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 02 năm 04 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn L - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội “Buôn bán hàng cấm".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2019/HS-ST
Ngày 28 - 5- 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG – TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Thể

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Ngọc

Ông Trần Văn Luyện

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kỳ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2019/QĐXXST-HS ngày 13/5/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên Lê Văn L - Sinh ngày 04 tháng 10 năm 1994 tại Huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm 11 xã QS, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; Tên gọi khác: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn V và bà Lê Thị D; Vợ Nguyễn Thị N, sinh năm 1995 và có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 27/01/2019 đến ngày 02/02/2019. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo lệnh số 02/LCCT-VKS-HS ngày 02/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương.

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 27/01/2019, Tổ công tác Công an huyện Đô Lương đang làm nhiệm vụ thì phát hiện Nguyễn Duy Thìn đang tàng trữ trái phép 10 khối hình tròn quả bóng nghi là pháo nổ ở trong giỏ xe mô tô. Thìn khai nhận số pháo này mua từ Lê Văn L. Cùng ngày, Công an huyện Đô Lương đã tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Lê Văn L tại xóm 11 xã QS, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, thu giữ 06 khối hình hộp chữ nhật nghi là pháo nổ tại phòng ngủ và phòng bếp đồng thời niêm phong theo quy định. Theo lời khai của L, Công an huyện Đô Lương tiếp tục khám xét phòng ở của Ngô Tiến Đạt tại khu tập thể Công ty cổ phần xi măng Sông Lam đóng tại xã Bài Sơn và thu giữ 03 túi nilông màu hồng chứa 30 khối hình tròn quả bóng nghi là pháo nổ.

Quá trình điều tra đã xác định được:

- Số pháo thu giữ của Thìn và Đạt có nguồn gốc là số pháo mà L đã mua hộ cho Thìn, Đạt trong tháng 01/2019 do Nguyễn Kim Bình bán.

- Số pháo thu giữ của L có nguồn gốc L mua từ một người đàn ông không quen biết với giá 3.000.000 đồng vào cuối tháng 10/2018 (âm lịch) thông qua mạng xã hội Facebook với mục đích bán kiếm tiền chênh lệch vào thời điểm Tết Nguyên đán năm 2019. Khi chưa kịp bán thì L đã bị bắt giữ.

Ngày 28/01/2019, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương đã tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại. Kết quả: 06 khối hình hộp chữ nhật thu giữ của L có khối lượng 8,54kg; 10 quả bóng hình tròn thu giữ của Nguyễn Duy Thìn có khối lượng 0,36kg; 30 quả bóng hình tròn thu giữ của Ngô Tiến Đạt có khối lượng 1,08 kg; trích mẫu giám định 03 quả bóng tròn của Thìn + 03 quả bóng tròn thu giữ của Đạt + 03 khối hình hộp chữ nhật nghi là pháo thu giữ của L theo Quyết định trưng cầu giám định số 39 ngày 28/01/2019.

Ngày 31/01/2019, Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nghệ An đã ban hành Kết luận giám định số 221/KL-PC09(CN), phản ánh:

Mẫu vật thu giữ của Nguyễn Duy Thìn gửi tới giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).

Mẫu vật thu giữ của Lê Văn L gửi tới giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).

Mẫu vật thu giữ của Ngô Tiến Đạt gửi tới giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).

Đối tượng giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Ngày 15/3/2019, cơ quan điều tra nhập kho số vật chứng còn lại gồm: 34 quả pháo hình tròn (còn gọi là pháo ông sư) và 03 khối pháo hình hộp chữ nhật vào Kho vật chứng Công an huyện Đô Lương.

Tại bản cáo trạng số 44/CT-VKS-HS ngày 18/4/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương truy tố bị cáo L về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo L thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố và tỏ ra ăn năn hối cải, cam đoan sẽ không bao giờ tái phạm và đã nhận thức được tính nghiêm trọng của hành vi phạm tội. Bị cáo không biết về danh tính người đàn ông bán pháo cho mình và do mất điện thoại từ lâu nên bị cáo cũng không nhớ số điện thoại mà người bán pháo đã liên lạc. Bị cáo có ông bà nội là người có công với cách mạng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử đề nghị: giữ nguyên việc truy tố bị cáo phạm tội “Buôn bán hàng cấm”; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 190; Điều 65; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo L mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng đến 30 tháng; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; xử lý vật chứng theo quy định tại điều 46, điều 47 Bộ luật Hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tiêu hủy số pháo còn lại là 34 quả pháo ông sư và 03 hộp pháo đang bảo quản tại Kho vật chứng công an huyện Đô Lương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

- Trong quá trình điều tra: Điều tra viên được phân công điều tra đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng về việc kiểm tra, xác minh, lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lập hồ sơ vụ án; hỏi cung bị can; khám xét chỗ ở và xử lý vật chứng; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn.

- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Kiểm sát viên đã thực hiện nghiêm túc hoạt động kiểm sát điều tra; tham gia phiên tòa đúng thời gian, địa điểm; công bố bản cáo trạng; tham gia xét hỏi, luận tội, tranh luận và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án đồng thời thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án cũng như người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử.

Do các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đều tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên hợp pháp và được sử dụng làm chứng cứ để Hội đồng xét xử xem xét.

Về nội dung:

Từ thời gian khoảng cuối tháng 10 năm 2018, tại nhà ở xóm 11 xã QS, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, Lê Văn L đã thực hiện việc tàng trữ 06 hộp pháo nổ có khối lượng 8,54kg nhằm mục đích bán vào dịp Tết Nguyên đán. Đến ngày 27/01/2019, khi L chưa kịp bán thì bị cơ quan điều tra phát hiện, bắt và thu giữ. Như vậy, hành vi của bị cáo L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 190 Bộ luật hình sự đúng như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương.

Xét tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm lớn cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế (kinh doanh mặt hàng pháp luật cấm), làm ảnh hưởng đến sự bình thường của hoạt động quản lý nhà nước về pháo và sử dụng pháo. Do vậy, cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và thật sự ăn năn hối cải (là hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự); ông bà nội bị cáo là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, hạng Nhì (là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự). Việc phạm tội chưa gây ra hậu quả về an ninh trật tự trên thực tế. Bị cáo có nhân thân tốt và đây là lần đầu bị đưa ra xét xử, có nơi cư trú rõ ràng và trong quá trình lao động, sinh hoạt tại địa phương chưa có bất kỳ vi phạm gì nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho cải tạo tại địa phương để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: do bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: 03 hộp pháo thu giữ của bị cáo L đã được sử dụng hết vào mục đích giám định kỹ thuật hình sự nên không xem xét; số pháo còn lại (3 hộp) là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy. Ngoài ra, 34 quả pháo hình tròn còn lại thu giữ của Nguyễn Duy Thìn và Ngô Tiến Đạt mặc dù không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nhưng cũng là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, chưa được xử lý trong quá trình xử phạt hành chính; vì vậy, để đảm bảo xử lý triệt để hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận tiêu hủy theo đề xuất của đại diện Viện kiểm sát.

Các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Duy Thìn, Ngô Tiến Đạt và Nguyễn Kim Bình có hành vi mua bán, tàng trữ pháo nổ nhưng do số lượng dưới mức tối thiểu nên hành vi này không bị truy cứu trách nhiệm hình sự và đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính là đúng pháp luật.

Chiếc điện thoại bị cáo dùng để liên lạc mua pháo đã bị mất, cơ quan điều tra không thu giữ được nên không xác định được số điện thoại, danh tính của người đàn ông đã bán pháo cho bị cáo. Vì vậy, không có căn cứ để xử lý về vấn đề này.

Về án phí: bị cáo Lê Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội “Buôn bán hàng cấm".

- Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Lê Văn L 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 02 năm 04 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã QS, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã QS trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.

- Biện pháp tư pháp:

Tịch thu tiêu hủy: 03 khối pháo hình hộp chữ nhật có kích thước 14x14x15cm, phía ngoài được bọc kín giấy, bên trong mỗi khối chứa 36 quả pháo hình trụ tròn; 34 quả pháo hình tròn quả bóng hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng công an huyện Đô Lương theo Phiếu nhập vật chứng ngày 15/3/2019.

- Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ