vanban.org

Bản án 42/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội Tuyên án 17/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T 13 ( Mười ba) tháng tù, trừ 09 ngày tạm giữ, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án. Vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015. Điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯƠNG MỸ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2019/HS-ST
Ngày: 17/5/2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ-THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Quý.

Ông Nguyễn Hữu Trọng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Minh Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

1.BÙI VĂN T sinh năm: 1990. HKTT: Thôn X, xã T, huyện C, TP. Hà Nội; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam: con ông: Bùi Văn T sinh năm 1959 và con bà: Trần Thị O, sinh năm 1966; có vợ: Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1992. Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Tại bản án HSST số 45 ngày 28/05/2007, TAND huyện Chương Mỹ xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo thử thách 24 tháng về tội “Cưỡng Đoạt tài sản”. Đã nộp án phí 50.000đ ngày 28/5/2007.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 21/01/2019 đến 30/01/2019 được huỷ bỏ tạm giữ, hiện bị cáo đang tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Văn T là đối tượng sử dụng ma túy từ năm 2017. Khoảng 15 giờ ngày 21/01/2019, Tuấn điều khiển xe môtô SYM STAR màu xanh BKS 33L6 – 9347 ( xe đăng ký tên Trần Thị O là mẹ đẻ bị cáo, bà O không biết tuấn mượn xe đi mua ma túy về sử dụng) đi từ nhà ở thôn X, xã T đến khu vực chợ Cá thuộc xã N gặp và hỏi mua của 01 người đàn ông tự giới thiệu tên L và không rõ địa chỉ, T mua 600.000 đồng ma túy Heroine, rồi cất giấu số ma túy Heroine vừa mua trong người mang về để sử dụng, khi đến khu vực thôn Việt An, xã Tân Tiến, huyện Chương Mỹ bị tổ công tác của Công an đồn Thủy Xuân Tiên thuộc Công an huyện Chương Mỹ làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn phát hiện tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra phát hiện Tuấn đang tàng trữ trái phép 03 gói nghi là ma túy Heroine. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Tuấn rồi chuyển CQĐT Công an huyện Chương Mỹ giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 03 gói có kích thước mỗi gói (2x1)cm bên ngoài bọc giấy lịch BlooK màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là matúy Heroine

-01 ĐTDĐ 0PP0 F1S màu vàng hồng.

- 01 xe môtô SYM STAR màu xanh BKS 33L6 – 9347

Tại Kết luận giám định số 804/KLGĐ – PC09 ngày 28/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 03 gói bằng giấy lịch BlooK màu trắng đều là matuý loại Heroine có tổng khối lượng 0,487 gam”

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bùi Văn T khai nhận toàn bộ hành vi giống như nội dung Cáo trạng. Bị cáo xác định hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại bản Cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 17/4/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ đã truy tố Bùi Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015. Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án.

Tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,487g Heroin. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động OPPO F1S màu vàng hồng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi phạm tội, điều luật áp dụng: Căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra Công an huyện Chương Mỹ và tại phiên tòa, lời khai người làm chứng, Kết luận giám định có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 15 giờ ngày 21/01/2019, tại khu vực thôn Việt An, xã Tân Tiến, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội, Bùi Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,487 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng thì bị tổ công tác Công an đồn Thủy Xuân Tiên thuộc Công an huyện Chương Mỹ làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự tại khu vực thôn Việt An, xã Tân Tiến phát hiện, bắt quả tang

Hành vi cất giấu trái phép ma túy của bị cáo Bùi Văn T là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về ma tuý; xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi cất giấu, tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Nhân thân: Tại bản án HSST số 45 ngày 28/05/2007, TAND huyện Chương Mỹ xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cưỡng Đoạt tài sản”. Ngày 28/05/2007 nộp án phí (đã được xóa án).

Căn cứ vào tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo được coi là xấu cần phải áp dụng mức hình phạt tù đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Bùi Văn T là đối tượng nghiện ma túy không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: 0,487 g Heroin là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Việc xử lý vật chứng theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với điện thoại Oppo F1S màu vàng hồng có số IM 1 863632032412559 và IM2 863632032412542 bên trong có 02 sim điện thoại số 08384044974 và 0868308765 bị thu giữ, tại phiên tòa bị cáo khai dùng điện thoại để liên lạc với người bán ma túy trước khi mua bán vì vậy tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô SYM STAR màu xanh BKS 33L6 – 9347 đăng ký chủ sở hữu là bà tên bà Trần Thị O mẹ bị cáo, bị cáo mượn để đi mua ma túy mẹ bị cáo không biết nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho bà O quản lý sử dụng là có căn cứ.

Vì vậy chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố bị cáo theo tội danh quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, các điều luật áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử lý vật chứng như đề nghị trong bản luận tội là có căn cứ đúng pháp luật.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh xử lý.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chương Mỹ,Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đó thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo tuyên có tội phải chịu án phí theo qui định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 về án phí lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T 13 ( Mười ba) tháng tù, trừ 09 ngày tạm giữ, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015. Điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 03 gói nhỏ bằng giấy Blook màu trắng trong chứa 0,487 gam Heroin.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Oppo F1S màu vàng hồng có số IM 1 863632032412559 và IM2 863632032412542 bên trong có 02 sim điện thoại số 08384044974 và 0868308765.

(Vật chứng đã được bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ theo biên bản bàn giao ngày 18/4/2019 ).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án.

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ