vanban.org

Bản án 42/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 28/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Viết B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Lê Viết B 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tam giam 18/02/2019. Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Viết B với thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/5/2019) để đảm bảo thi hành án theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Viết B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Viết B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BỐ TRẠCH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2019/HS-ST
Ngày 28-5-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trung Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Dương Quốc Phòng

+ Bà Nguyễn Thị Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhạn- Thư ký TAND huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh Hà- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2019, tại Nhà văn hóa Tiểu khu 6, thị trấn Hoàn Lão, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2019/TlST-ST ngày 03 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2019/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Lê Viết B; sinh ngày 16 tháng 9 năm 1989 tại huyện B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn X, xã Z, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ, sinh năm 1962 và bà Lê Thị L, sinh năm 1963; có vợ Nguyễn Thị Bé H, sinh năm 1997 và 01 con sinh năm 2018; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, sau đó chuyển sang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình từ ngày 18/02/2019 cho đến nay. Có mặt

* Người làm chứng:

- Anh Lê Văn K, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn X, xã Z, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt

- Anh Lê Thị L, sinh năm 1963; Địa chỉ: Thôn X, xã Z, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 ngày 18/02/2019 tại đường liên thôn, thuộc thôn 8, xã Lý Trạch, huyện Bố Trạch, lực lượng Công an huyện Bố Trạch phối hợp với Công an xã Lý Trạch tiến hành kiểm tra, phát hiện và bắt qủa tang đối tượng Lê Viết B, sinh năm 1989 trú tại thôn X, xã Z đang cất giấu trong tay áo bên trái 17 viên nén thuốc tân dược. Trong đó, có 16 viên màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có ký hiệu chữ “WY” và 01 viên màu xanh, trên bề mặt có ký hiệu chữ “A” nghi là chất ma túy, để sử dụng.

Quá trình điều tra, B khai nhận: Khoảng trưa ngày 08/02/2019, B vào quán internet ở ngã 3 Bắc Lý, TP Đồng Hới chơi game thì gặp một đối tượng tên là “Bờm” tại quán internet. Sau khi trò chuyện làm quen, B đặt vấn đề với Bờm nhờ mua cho một ít ma túy loại hồng phiến với số tiền 1.200.000 đồng, Bờm đồng ý. Bảo đưa tiền cho Bờm và ngồi đợi tại quán internet, khoảng 30 phút sau Bờm quay lại gặp Bảo và nói: “Khi nào về thì ra tìm cái khẩu trang hỏng ngoài vỉa hè trước quán internet, lấy hàng mà về”. Nghe xong, B tiếp tục chơi game đến khuya, lúc về B ra khỏi quán internet, tìm và nhặt lấy một cái khẩu trang bên trong có một bao ni long màu trắng chứa ma túy, B đưa về nhà cất giấu. Hôm sau, B bị ốm và lên cơn sốt gia đình đưa Bảo đi điều trị tại Bệnh viện Cu Ba - Đồng Hới, đến chiều ngày 18/02/2019 Bảo ra viện về nhà, tắm rửa xong rồi lấy gói ma túy giấu vào tay áo, trên đường đưa đi tìm nơi sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện Bố Trạch phát hiện và bắt giữ.

Tại Bản kết luận giám định số: 221/QĐ-PC09, ngày 22 tháng 02 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, kết luận: “Mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,622g. Mẫu ký hiệu A2 gửi giám định không phải là chất ma túy, khối lượng 0,098g. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự: 323, Danh mục II, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ”.

Vật chứng vụ án: Thu giữ tại Lê Viết B 17 viên nén thuốc tân dược, gồm 16 viên màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có ký hiệu chữ “WY” và 01 viên màu xanh, trên bề mặt có ký hiệu chữ “A”. Sau kết quả giám định đã được niêm phong bằng một phong bì thư dán kín, có số: 221/GĐ-PC 09 Công an tỉnh Quảng Bình; Thu giữ của B một điện thoại di động hiệu Iphone 5, màu đen có số điện thoại 0901712294 đã qua sử dụng.

Cáo trạng số: 41/CT-VKSBT ngày 02/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình truy tố Lê Viết B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, xử phạt Lê Viết Bảo từ 15 đến 18 tháng tù; Về xử lý vật chứng đề nghị HĐXX tuyên tịch thu hủy số lượng ma túy hoàn lại sau giám định và trả lại 01 điện thoại, hiệu Iphone 5, màu đen đã qua sử dụng và 01 sim điện thoại có số thuê bao: 0901712294 cho Lê Viết B; Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi phạm tội của mình gây ra là nguy hiểm cho xã hội và vi phạm pháp luật, nên rất ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật để được hưởng mức án thấp nhất nhằm có cơ hội sớm cải tạo trở làm một người công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

Phiên tòa vắng mặt 01 người làm chứng, nhưng sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với bị cáo, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định chung.

Về hành vi phạm tội và tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố; Phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, tang vật vụ án được thu giữ cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, HĐXX có đủ cơ sở xác định: Do nghiện chất ma túy, ngày 08/02/2019 bị cáo đã tìm gặp một đối tượng có tên là “Bờm” để mua 17 viên ma túy loại hồng phiến với số tiền 1.200.000 đồng và mang về nhà cất dấu. Ngày 18/02/2019, trong khi Lê Viết Bảo đang trên đường đi tìm nơi sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ quả tang. Theo kết luận giám định số: 221/QĐ-PC09, ngày 22 tháng 02 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, thì số ma túy thu giữ tại Bảo có “Mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,622g. Mẫu ký hiệu A2 gửi giám định không phải là chất ma túy, khối lượng 0,098g.

Với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng như trên với lỗi cố ý của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015. Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm, không những xâm phạm quy định trong độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm mà còn bị xã hội lên án gay gắt, là nguyên nhân dẫn đến phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát và bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS được thể hiện về nhân thân không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo luôn có thái độ thành khẩn trong khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là ông Lê Văn Đ được Nhà nước tặng thưởng Huân, huy chương nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và nhân thân của bị cáo đã nêu trên, HĐXX nhân thấy cần phải áp dụng mức hình phạt tù trên mức khởi điểm theo quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian mới có đủ tác dụng giáo dục răn đe đối với bị cáo và đã thể hiện được chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng....”. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, hành vi tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng cho nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Liên quan đến vụ án còn có đối tượng tên là “Bờm” đã bán ma tuý cho bị cáo nhưng không xác định được danh tính và địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý TNHS trong cùng vụ án. Do đó, đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra xác minh làm rõ nhân thân và hành vi phạm tội của đối tượng trên để xử lý theo quy định của pháp luật khi có đủ căn cứ.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 bì thư dán kính, được niêm phong có số: 221/GĐ-PC-09 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, bên trong có chứa khối lượng ma túy hoàn lại sau giám định là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 Điện thoại di động hiệu Iphone 5, màu đen có số điện thoại 0901712294 đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho Lê Viết B.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015,

1. Tuyên bố bị cáo Lê Viết B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Xử phạt: Lê Viết B 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tam giam 18/02/2019.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Viết B với thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/5/2019) để đảm bảo thi hành án theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.

- Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ Luật hình sự; Điều 106 của Bộ Luật tố tụng hình sự quyết định:

- Tịch thu tiêu huỷ 01 bì thư dán kính, được niêm phong có số: 221/GĐ-PC-09 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, bên trong có chứa khối lượng ma túy hoàn lại sau giám định

- Trả lại cho Lê Viết B 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5, màu đen, đã qua sử dụng và 01 sim điện thoại có số thuê bao: 0901712294.

Các tang vật nêu trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, có đặc điểm, số lượng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/5/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều Công an huyện Bố Trạch và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bố Trạch.

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

- Buộc bị cáo Lê Viết B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/5/2019) để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

Cỡ chữ