vanban.org

Bản án 42/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị A đối với anh Nguyễn Văn N về việc ly hôn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị A đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Văn N. Về con chung: Anh Nguyễn Văn N có trách nhiệm giao con chung tên Nguyễn Thiện N, sinh ngày 29/7/2013 cho chị Ngô Thị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Ngô Thị A không yêu cầu anh Nguyễn Văn N cấp dƣỡng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị A đối với anh Nguyễn Văn N về việc ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 42/2019/HNGĐ-ST
Ngày 20-5-2019
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, T NH NH DƯ NG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hiếu Trọn.

2. Ông Từ Anh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2019 tại Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 76/2019/TLST - HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2019 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 34/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2019 giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị A, sinh năm 1988; thƣờng trú: Ấp L, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang; tạm trú: D5, khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1980; thƣờng trú: Ấp L, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang; tạm trú: D5, khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.

Chị Ngô Thị A có yêu cầu giải quyết vắng mặt, anh Nguyễn Văn N vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 16/01/2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Ngô Thị A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị A và anh Nguyễn Văn N tìm hiểu nhau trong khoảng thời gian 01 năm thì tổ chức lễ cƣới, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang và đã đƣợc cấp giấy chứng nhận kết hôn số 13, quyển số 01/2013 cấp ngày 01/4/2013.

Sau khi kết hôn, vợ chồng cùng sống tại xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Năm 2014, sau khi sinh con đƣợc 03 tháng thì vợ chồng chuyển về khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Đến năm 2016, anh chị chuyển về địa chỉ D5, khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Anh N làm nghề bán dừa dạo, thu nhập bao nhiêu chị A không rõ. Chị A bán mỹ phẩm, thu nhập khoảng 7.000.000 đồng/tháng. Cũng từ năm 2016, vợ chồng bắt đầu có nhiều mâu thuẫn, do anh N sống không có trách nhiệm với gia đình, làm đƣợc bao nhiêu tiền đều dùng để cờ bạc không phụ giúp chị A chăm sóc con, mọi công việc trong gia đình đều do chị A gánh vác. Khi thấy chị A gặp gỡ bạn bè, anh N ghen tuông vô cớ, hay dằn vặt và đe dọa làm chị A rất lo sợ, do đó, vợ chồng không còn nói chuyện chia sẻ đƣợc với nhau. Hiện nay, vợ chồng anh chị vẫn sống cùng nhà nhƣng đã ly thân từ tháng 3/2018, không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa. Nay chị Ngô Thị A xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Văn N.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Thiện N, sinh ngày 29/7/2013. Hiện nay con đang ở với vợ chồng anh chị. Từ trƣớc đến nay, 01 mình chị chăm sóc, nuôi dạy con, mọi chi tiêu cho con và tiền đi học của con đều do chị A lo, anh N không phụ giúp gì. Bản thân chị tự nhận có đủ điều kiện chăm sóc tốt cho con, do đó, sau khi ly hôn chị A yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung và không yêu cầu anh N phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Văn N đã đƣợc Toà án thông báo tham gia tố tụng, tống đạt các văn bản tố tụng nhƣng anh Nguyễn Văn N không đến Toà án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố nào, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Ngày 28/02/2019, Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, quá trình chung sống giữa chị Ngô Thị A và anh Nguyễn Văn N tại địa phƣơng và đƣợc cung cấp: Hội liên hiệp phụ nữ phƣờng A không nhận đƣợc đơn đề nghị hòa giải quan hệ hôn nhân giữa chị Ngô Thị A và anh Nguyễn Văn N. Đồng thời Hội cũng không tiếp nhận phản ánh từ cơ sở về mâu thuẫn giữa hai anh chị, do đó không biết rõ giữa hai anh chị có mâu thuẫn nhƣ thế nào.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán đƣợc phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã đƣợc thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án: nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự và có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn không chấp hành theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định.

+ Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình, có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị A.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cháu Nguyễn Thiện N, sinh ngày 29/7/2013 cho chị Ngô Thị A trực tiếp nuôi dƣỡng và ghi nhận sự tự nguyện của chị Ngô Thị A không yêu cầu anh Nguyễn Văn N cấp dƣỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về sự vắng mặt của các đƣơng sự: Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 26/4/2019 và ngày 20/5/2019 nhƣng bị đơn vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị A và anh Nguyễn Văn N tìm hiểu nhau 01 năm thì tổ chức đám cƣới, đăng ký kết hôn vào năm 2013 tại UBND xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 13, quyển số 01/2013 cấp ngày 01/4/2013 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, chị Ngô Thị A cho rằng vợ chồng bất đồng quan điểm sống từ năm 2016, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, do anh N sống không có trách nhiệm với gia đình, làm đƣợc bao nhiêu tiền đều dùng để cờ bạc không phụ giúp chị A chăm sóc con, mọi công việc trong gia đình đều do chị A gánh vác. Khi thấy chị A gặp gỡ bạn bè, anh N ghen tuông vô cớ, hay dằn vặt và đe dọa làm chị A rất lo sợ, do đó, vợ chồng không nói chuyện chia sẻ đƣợc với nhau. Hiện nay, vợ chồng anh chị vẫn sống cùng nhà nhƣng đã ly thân từ tháng 3/2018, không còn quan tâm, chăm sóc nhau và cũng không cùng nhau chăm lo cho gia đình và con cái.

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và đã nhiều lần triệu tập anh Nguyễn Văn N đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng anh Nguyễn Văn N không có mặt, chị Ngô Thị A cũng có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải với anh Nguyễn Văn N. Điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng của anh chị đã thực sự không còn và cả hai bên đều không muốn hàn gắn.

Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt đƣợc mục đích đó, vợ chồng phải chung thủy, thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Việc anh Nguyễn Văn N bỏ mặc không quan tâm đến hòa giải đoàn tụ để hàn gắn quan hệ hôn nhân với chị Ngô Thị A cho thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị Ngô Thị A và anh Nguyễn Văn N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu đƣợc ly hôn của chị Ngô Thị A.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Thiện N, sinh ngày 29/7/2013.

Xét, trong suốt quá trình tố tụng, anh N vắng mặt nên không có ý kiến về việc nuôi con chung. Hiện nay cháu N đang ở cùng với anh chị, tuy nhiên, chỉ có chị A là ngƣời trực tiếp chăm sóc nuôi dạy con. Chị A đang bán mỹ phẩm, thu nhập ổn định 7.000.000 đồng/tháng, chị A có điều kiện để chăm lo cho con. Bên cạnh đó, cháu N còn nhỏ nên cần sự chăm sóc trực tiếp của ngƣời mẹ. Xét thấy, khi giải quyết ly hôn, việc giao con cho cha hay mẹ nuôi thì phải đảm bảo đƣợc sự phát triển toàn diện về mọi mặt cho đứa trẻ. Từ những nhận định trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị A về việc đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung cháu Nguyễn Thiện N. Ghi nhận sự tự nguyện của chị A không yêu cầu anh N cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Ngô Thị A phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị A đối với anh Nguyễn Văn N về việc ly hôn.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị A đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Văn N.

- Về con chung: Anh Nguyễn Văn N có trách nhiệm giao con chung tên Nguyễn Thiện N, sinh ngày 29/7/2013 cho chị Ngô Thị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Ngô Thị A không yêu cầu anh Nguyễn Văn N cấp dƣỡng nuôi con.

Sau ly hôn, chị Ngô Thị A và anh Nguyễn Văn N đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Trƣờng hợp anh Nguyễn Văn N lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hƣởng xấu đến việc chị Ngô Thị A nuôi con thì chị có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí: Chị Ngô Thị A phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0028032, ngày 22/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Chị Ngô Thị A đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Án xử công khai, tuyên án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

4. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ