- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Giang Minh A xin ly hon NGuyen Thi Anh D"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Giang Minh A đối với chị Lê Thị Ánh D.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2019/HNGĐ-ST. Ngày 11-6-2019. V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Như Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Cao Hoài Hiêm
Bà Lê Thị Diễm
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thướng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 219/2019/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Giang Minh A, sinh năm 1964; địa chỉ: Số 154/51/83 Â, Phường B, Quận C, Thành phố H - Có mặt.
- Bị đơn: Chị Lê Thị Ánh D, sinh năm 1973; địa chỉ: Ấp G, xã L, huyện F, tỉnh N - Vắng mặt có đơn xin.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Giang Minh A trình bày: Anh và chị D tự chung sống với nhau năm 2001, không có tổ chức lễ cưới, không có đăng ký kết hôn. Sau khi chung sống với nhau, vợ chồng anh thuê nhà trọ tại Phường B, Quận C, Thành phố H sống, anh đi đờn ca tài tử ở các tỉnh còn vợ đi làm công nhân. Đến năm 2002 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu nhau dẫn đến thường xuyên cải vã nhau, hơn nữa anh đi theo đoàn hát cải lương lâu lâu mới về một lần nên vợ chồng xa mặt cách lòng và sau này vợ về nhà cha mẹ ruột tại Ấp G, xã L, huyện F, tỉnh N sinh con và ở luôn đến nay. Trong thời gian ly thân anh có thường xuyên lên thăm con và nói chuyện với vợ để hàn gắn hạnh phúc nhưng tình cảm vợ chồng đã không còn nên vợ chồng anh chính thức ly thân từ năm 2002 đến nay. Nay anh làm đơn xin ly hôn với chị D.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Giang Hải M, sinh ngày 29-4-2002, hiện nay cháu M đang sống với chị D. Sau khi ly hôn tùy theo nguyện vọng của con theo ai người đó nuôi, nếu con theo vợ thì anh đồng ý cấp dưỡng nuôi con số tiền 1.000.000 đồng/ tháng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Lê Thị Ánh D trình bày: Chị thống nhất lời trình bày của anh A về ngày tháng chung sống, con chung, tài sản chung, nợ chung là đúng. Lý do vợ chồng chị không đăng ký kết hôn là vì lúc đó chị không hiểu biết pháp luật, không biết vợ chồng sống với nhau là phải đi đăng ký kết hôn, còn anh A lúc đó đi đờn ca tài tử, ít khi có nhà. Vợ chồng chị ly thân từ lúc chị sinh cháu M vào năm 2002 đến nay. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do trong quá trình chung sống chị đi làm công nhân được mấy tháng thì có thai, bị thai hành nên nghỉ làm ở nhà nội trợ, còn một mình anh A đi làm, kinh tế gia đình khó khăn nên vợ chồng thường xuyên cải vã nhau, đến khi chị về quê sinh con gái xong, thời gian đầu thì anh A còn đến thăm chị và con, càng về sau tình cảm nhạt dần. Đến năm 2004 thì vợ chồng chính thức ly thân, không còn qua lại nữa. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chị đồng ý ly hôn.
Về con chung: Tùy theo ý kiến của con theo ai người đó nuôi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn; Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự; theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
2. Việc giải quyết vụ án:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, 53, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng tuyên xử:
- Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh A với chị D
- Về con chung: Giao cháu Giang Hải M, sinh ngày 29-4-2002 cho chị D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận anh A đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu M số tiền 1.000.000 đồng/ tháng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Chị Lê Thị Ánh D vắng mặt có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, tiến hành xét xử vụ án.
Về hôn nhân: Anh A và chị D chung sống với nhau vào năm 2001, không có đăng ký kết hôn. Đến năm 2002 vợ chồng phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân mâu thuẫn do gặp khó khăn trong kinh tế gia đình, từ đó dẫn đến thường xuyên mâu thuẫn cải vã nhau, gây mất hạnh phúc gia đình. Hai người đã sống ly thân từ năm 2004 đến nay, không ai có thiện chí hàn gắn. Hội đồng xét xử nhận thấy cuộc sống hôn nhân của anh A, chị D không có đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nay anh A yêu cầu ly hôn, áp dụng khoản 1 Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh A với chị D.
Về con chung: Cháu Giang Hải M, sinh ngày 29-4-2002. Xét thấy hiện nay cháu M đang sống với chị D, chị D có nguyện vọng được nuôi cháu M và cháu M cũng có yêu cầu được sống với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy cần giao chị D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu M là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận anh A đồng ý cấp dưỡng nuôi con số tiền 1.000.000 đồng/ tháng
Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí: Anh A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và ấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 14, Điều 15, 53, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 27 của Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Giang Minh A đối với chị Lê Thị Ánh D.
2. Về con chung:
- Giao con chung: Cháu Giang Hải M, sinh ngày 29-4-2002 cho chị D có quyền, nghĩa vụ tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục;
- Anh A có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu M số tiền 1.000.000 đồng/ tháng. Thời gian cấp dưỡng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi cháu M đủ 18 tuổi;
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Anh A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Anh A phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà anh A đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016987 ngày 26-3-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Anh A còn phải nộp thêm số tiền 300.000 đồng.
5. Quyền kháng cáo: Anh A được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Chị D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Trảng Bàng; - Chi cục THADS huyện Trảng Bàng; - Lưu: Án văn, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đã ký) Hà Như Thủy |