vanban.org

Bản án 42/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về con chung: 1. Giao con chung Huỳnh Lê Khả N, sinh ngày: 07/6/201x cho bà Lê Thị Cẩm T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận việc bà Lê Thị Cẩm T tự nguyện không yêu cầu ông Huỳnh Duy V cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Huỳnh Duy V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung là không… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa bà T và ông V"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DIÊN KHÁNH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 27-9-2019
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Tín

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Cảnh

Bà Thái Thị Đang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 85/2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số: 30/2019/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Cẩm T, sinh năm: 199x

Địa chỉ: Thôn B, xã D, huyện D.K, tỉnh Khánh Hòa; có mặt.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Duy V, sinh năm: 198x

Địa chỉ: Thôn T, xã D, huyện D.K, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị Cẩm T trình bày:

Bà và ông Huỳnh Duy V tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2011. Thời gian đầu sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng bình thường; nhưng sau khi bà sinh con thì giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra kình cãi do bất đồng quan điểm sống; ông V thường xuyên nhậu nhẹt, chơi số đề, cá độ banh bóng, không có trách nhiệm với vợ con và không tôn trọng gia đình bà. Tháng 03/2018, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn trầm trọng; ông V bỏ về nhà cha mẹ ruột của ông V sinh sống; từ đó đến nay mỗi người tự lo cuộc sống riêng của mình. Nay bà không còn tình cảm gì với ông V; không thể hàn gắn mâu thuẫn để đoàn tụ gia đình, vì vậy, bà kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông V.

Về con chung: Vợ chồng bà có 01 con chung là Huỳnh Lê Khả N, sinh ngày 07/6/201x. Hiện cháu N đang sống cùng với bà. Khi ly hôn, bà có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi con và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Huỳnh Duy V không đến Tòa án làm việc, không có lời khai.

- Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật; bị đơn không có lời khai, không đến Tòa án làm việc.

Về nội dung: Sau khi xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của đương sự tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Cẩm T đối với ông Huỳnh Duy V. Giao con chung Huỳnh Lê Khả N, sinh ngày 07/6/201x cho bà Lê Thị Cẩm T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận việc bà T không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Ông V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Tài sản chung tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xét. Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Huỳnh Duy V tham gia phiên tòa nhưng ông V vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành việc xét xử.

. Về quan hệ hôn nhân:

. Ngày 19/9/2011, bà Lê Thị Cẩm T và ông Huỳnh Duy V đã tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện Diên Khánh và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 45/2011, quyển số: 01/2010; đây là hôn nhân hợp pháp.

. Bà Lê Thị Cẩm T xác định cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và không thể hàn gắn; hiện tại, bà T không còn tình cảm với ông V; không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân. Thực tế, vợ chồng bà T và ông V đã không còn chung sống với nhau từ tháng 3/2018 đến nay; mỗi người tự lo cuộc sống riêng của mình. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông V đến Tòa án để làm việc liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như tham gia phiên hòa giải để hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng, nhưng ông V đều không đến, không có lời khai và tại phiên tòa ông V cũng vắng mặt không lý do. Điều này thể hiện việc ông V có thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến quan hệ vợ chồng, không muốn hàn gắn đoàn tụ. Như vậy, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn.

. Về con chung: Theo bản Trích lục khai sinh của Huỳnh Lê Khả N do đương sự cung cấp thể hiện cháu N sinh ngày: 07/6/201x là con của bà Lê Thị Cẩm T và ông Huỳnh Duy V. Hiện nay, cháu N đang sống chung với bà T; tại phiên tòa bà T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Như. Do đó, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu N cần giao cháu N cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận việc bà T tự nguyện không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung.

. Về tài sản chung: Bà Lê Thị Cẩm T không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung nên không xét.

. Về nợ chung: Bà Lê Thị Cẩm T xác định vợ chồng không có nợ chung; nhưng do bị đơn ông Huỳnh Duy V chưa có lời khai về vấn đề này nên nếu sau này đương sự có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

. Về án phí: Nguyên đơn bà Lê Thị Cẩm T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Lê Thị Cẩm T được ly hôn ông Huỳnh Duy V.

2. Về con chung:

2.1. Giao con chung Huỳnh Lê Khả N, sinh ngày: 07/6/201x cho bà Lê Thị Cẩm T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận việc bà Lê Thị Cẩm T tự nguyện không yêu cầu ông Huỳnh Duy V cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Huỳnh Duy V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung là không ai được quyền cản trở.

2.2. Quá trình nuôi con chung, bà Lê Thị Cẩm T, ông Huỳnh Duy V có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; thay đổi cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung: Bà Lê Thị Cẩm T không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung nên không xét.

4. Về án phí: Bà Lê Thị Cẩm T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà Lê Thị Cẩm T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2016/0002657 ngày 16/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diên Khánh. Bà Lê Thị Cẩm T đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

6. Quyền kháng cáo: Bà Lê Thị Cẩm T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông Huỳnh Duy V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ