vanban.org

Bản án 42/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 05/09/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Buộc bà Nguyễn Thị Th thanh toán cho Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh Bình Dƣơng số tiền nợ theo Hợp đồng tín dung số đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số 210-22/16/VAB/HĐTDHCN ngày 03/02/2016 là 416.

1. Tiền lãi đƣợc tiếp tục tính từ ngày 06/9/2019 theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại Điều 4 và Điều 11 của Hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số 210-22/16/VAB/HĐTDHCN ngày 03/02/2016. 2. Sau khi Ngân hàng TMCP V có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Nguyễn Thị Th không thanh toán số tiền trên th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn NH V với bị đơn bà Nguyễn Thị Th"
  • Tòa quyết gì? Buộc bà Nguyễn Thị Th thanh toán cho Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh Bình Dƣơng số tiền nợ theo Hợp đồng tín dung số đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số 210-22/16/VAB/HĐTDHCN ngày 03/02/2016 là 416.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 42/2019/DS-ST
Ngày 05-9-2019
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Từ Anh Tuấn.

Bà Nguyễn Thị Thu Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 181/2019/TLST- DS ngày 23 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 60/2019/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 76/2019/QĐST-DS ngày 16 tháng 8 năm 2019, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V; trụ sở: 34A- 34B H, phƣờng P, quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội.

Ngƣời đại diện hợp pháp: Chị Lê Thị Thu Th; địa chỉ: Tầng trệt TTTM B Đại lộ Bình Dƣơng, phƣờng Ph, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng, là ngƣời đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 27/5/2019). Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1986; thƣờng trú: 35/13 khu phố T, phƣờng Đ, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 17 tháng 4 năm 2019, quá trình tham gia tố tụng người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, chị Lê Thị Thu Th trình bày:

Ngày 03/02/2016, Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần V – Chi nhánh Bình Dƣơng (Ngân hàng TMCP V) và bà Nguyễn Thị Th ký Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 210-22/16/VAB/HĐTDHCN vay số tiền 390.000.000 đồng, lãi suất 12.08%/năm, lãi suất thay đổi 01 tháng/lần, thời hạn vay 60 tháng, mục đích vay mua xe ô tô nhãn hiệu Mazda, phƣơng thức Th toán: trả gốc, lãi hàng tháng với số tiền gốc cố định là 6.500.000đồng/tháng, thời gian trả vào ngày 05 hàng tháng. Tài sản đảm bảo cho việc vay là xe ô tô hiệu Mazda, màu trắng, số máy P520318516, số khung RN2DL4AA6GC024969, biển số 61A-270.94 theo giấy chứng nhận đăng ký xe số 024847. Việc thế chấp đƣợc làm thành hợp đồng số 210-22/16/VAB/HĐTCOTO ngày 03/02/2016.

Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng V đã giải ngân cho bà Th số tiền 390.000.000, bà Th đã nhận đủ tiền nhƣng mới Th toán đƣợc 14 kỳ theo đúng thỏa thuận. Từ ngày 05/4/2017 bà Th không tiếp tục Th toán cho Ngân hàng V, mặc dù Ngân hàng đã nhắc nhở nhiều lần nhƣng bà Th vẫn không Th toán thêm bất kỳ khoản nào cho Ngân hàng V. Ngân hàng V đã nhiều lần nhắc nhở nhƣng bà Th vẫn không thực hiện đúng nhƣ trong hợp đồng đã thỏa thuận. Vì vậy, Ngân hàng V khởi kiện yêu cầu bà Th phải trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền cò nợ tính tới ngày 05/9/2019 là 416.144.817 đồng, trong đó bao gồm tiền nợ gốc: 299.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn 61.528.155 đồng và lãi quá hạn 55.616.662 đồng. Trƣờng hợp bà Th không Th toán đƣợc toàn bộ số tiền nợ cho Ngân hàng V thì Ngân hàng V có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 210-22/16/VAB/HĐTCOTO ký ngày 03/02/2016 giữa Ngân hàng V với bà Th để thu hồi nợ.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị Th: Bà Th đã đƣợc tòa án triệu tập hợp lệ để cung cấp bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào các ngày 13/6/2019 và 18/7/2019, tham gia phiên tòa vào các ngày 16/8/2019 và 05/9/2019 nhƣng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Thẩm phán đƣợc phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy đi ̣nh của Bộ luật Tố tụng Dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Đƣơng sƣ̣ đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy đi ̣nh của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, ngƣờ i đa ̣i diê ̣n hợp pháp của nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt , bị đơn đã đƣợc triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhƣng vắng mặt không có lý do đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt các đƣơng sự theo quy đi ̣nh tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V là có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết đi ̣nh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn là bà Lê Thị Thu Th có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 19/6/2019. Bị đơn bà Nguyễn Thị Th đã đƣợc Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa vào các ngày 16/8/2019 và 05/9/2019 nhƣng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt các đƣơng sƣ̣.

Xét, ngày 03/02/2016, bà Nguyễn Thị Th ký Hợp đồng tín dụng số 210-22/16/VAB/HĐTDHCN để vay số tiền 390.000.000 đồng của Ngân hàng V. Hai bên thỏa thuận mức lãi suất vay là 12.08%/năm, lãi suất thay đổi 01 tháng/lần, thời hạn vay 60 tháng, mục đích vay mua xe ô tô nhãn hiệu Mazda, phƣơng thức Th toán: trả gốc, lãi hàng tháng với số tiền gốc cố định là 6.500.000đồng/tháng, thời gian trả vào ngày 05 hàng tháng. Để đảm bảo cho khoản vay hai bên đã ký Hợp đồng thế chấp số 210-22/16/VAB/HĐTCOTO ký ngày 03/02/2016, theo đó bà Th thế chấp chính chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda màu trắng, số máy P520318516, số khung RN2DL4AA6GC024969, biển số 61A-270.94 theo giấy chứng nhận đăng ký xe số 024847, là tài sản hình thành trong tƣơng lai của bà Nguyễn Thị Th. Việc thỏa thuận ký Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp này thể hiện ý chí tự nguyện của các đƣơng sự trong giao kết hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng bà Th đã nhận đủ tiền nhƣng mới thanh toán cho Ngân hàng V đƣợc số tiền 91.000.000 đồng. Từ ngày 05/4/2017 đến nay bà Th không tiếp tục thanh toán tiền gốc và lãi cho Ngân hàng Việt Á. Nhƣ vậy, bà Th đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã đƣợc thỏa thuận tại Điều 10 trong hợp đồng tín dụng số 210-22/16/VAB/HĐTDHCN nên Ngân hàng V khởi kiện yêu cầu bà Th thanh toán toàn bộ số nợ gốc, tiền lãi là có cơ sở chấp nhận.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An phù hợp với phân tích trên nên có cơ sở chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Th phải chịu theo quy đi ̣nh tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1. Buộc bà Nguyễn Thị Th thanh toán cho Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh Bình Dƣơng số tiền nợ theo Hợp đồng tín dung số đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số 210-22/16/VAB/HĐTDHCN ngày 03/02/2016 là 416.144.817 đồng (bốn trăm mƣời sáu triệu một trăm bốn mƣơi bốn nghìn tám trăm mƣời bảy đồng), trong đó bao gồm tiền nợ gốc: 299.000.000 đồng (hai trăm chín mƣơi chín triệu đồng), tiền lãi trong hạn 61.528.155 đồng (sáu mƣơi mốt triệu năm trăm hai mƣơi tám nghìn một trăm năm mƣơi lăm đồng) và lãi quá hạn 55.616.662 đồng (năm mƣơi lăm triệu sáu trăm mƣời sáu nghìn sáu trăm sáu mƣơi hai đồng).

1.1. Tiền lãi đƣợc tiếp tục tính từ ngày 06/9/2019 theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại Điều 4 và Điều 11 của Hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số 210-22/16/VAB/HĐTDHCN ngày 03/02/2016.

1.2. Sau khi Ngân hàng TMCP V có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Nguyễn Thị Th không thanh toán số tiền trên thì Ngân hàng đƣợc quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án phát mãi tài sản mà bà Nguyễn Thị Th đã thế chấp để bảo đảm nợ vay theo hợp đồng thế chấp số 210-22/16/VAB/HĐTCOTO ký ngày 03/02/2016, là xe ô tô nhãn hiệu Mazda màu trắng, số máy P520318516, số khung RN2DL4AA6GC024969, biển số 61A-270.94, giấy chứng nhận đăng ký xe số 024847 ngày 05/02/2016 do bà Nguyễn Thị Th đứng tên.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Th phải chịu số tiền 20.645.793 (hai mƣơi triê ̣u sáu trăm bốn mƣơi lăm nghìn bảy trăm chín mƣơi ba) đồng.

Trả lại cho Ngân hàng TMCP V toàn bộ số tiền tạm ứng án phí 9.847.000 (chín triệu tám trăm bốn mƣơi bảy nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0028618 ngày 23 tháng 5 năm 2019 của Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đƣơng sự vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.

Cỡ chữ