- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức Th - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 35 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2018/HS- ST Ngày: 05/10/2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Minh Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Đức Hữu
2. Ông Đỗ Xuân Thọ.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Lan- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Huệ- Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2018/HSST ngày 18 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2018/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức Th- sinh ngày 09 tháng 10 năm 1974 tại huyện T1, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu 2, xã N, huyện T1, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lái xe ô tô; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy Đ sinh năm 1947 và bà Đỗ Thị H sinh năm 1952; có vợ là Vi Thị Thúy H1 sinh năm 1976 và 02 con: Lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam, hiện tại ngoại. Có mặt.
- Bị hại: Ông Nguyễn Đắc T- sinh năm 1959
Trú tại: Khu T2, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị Th2- sinh năm 1970 (Là vợ ông T)
Trú tại: Khu T2, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Đức H2- sinh năm 1986
Trú tại: Khu 2, xã N, tại huyện T1, tỉnh Phú Thọ.
- Người làm chứng:
+ Ông Nguyễn Hải L- sinh năm 1964
Trú tại: Thôn 1, xã T3, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
+ Bà Đặng Thị H3- sinh năm 1965
Trú tại: Thôn 1, xã T3, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
(Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đức Th sinh năm 1974 ở xã N, huyện T1, tỉnh Phú Thọ lái xe ô tô tải thuê cho anh Nguyễn Đức H2 (em trai Th), hai bên chỉ hợp đồng miệng, không làm văn bản. Khoảng 05 giờ ngày 31/5/2018, Thọ điều khiển xe ô tô tải biển số 19C-034.88 đi từ xã N, huyện T1 sang huyện Đ để mua cát, sỏi. Anh Nguyễn Đức H2 đi cùng xe và ngồi ở ghế phụ. Khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, Th điều khiển xe ô tô đi theo hướng Hà Nội- Tuyên Quang đến Km 102+700 Quốc lộ 2 thuộc địa phận thôn 1, xã T3, huyện Đ. Đây là đoạn đường trải nhựa tương đối phẳng, thẳng, tầm nhìn không bị hạn chế, trên phần đường phải theo hướng đi của Th có một xe ô tô tải đỗ trên mặt đường nhựa. Khi còn cách xe ô tô đang đỗ khoảng 10 mét, Th điều khiển xe đi sang phần đường bên trái để vượt lên. Quá trình vượt xe ô tô đỗ trên đường thì xe của Th chiếm hết phần đường của xe đi ngược chiều. Khi phần đầu xe của Th ở vị trí ngang với sườn bên trái của xe ô tô đang đỗ, Th phát hiện phía trước có xe mô tô biển số 19E1-011.23 do ông Nguyễn Đắc T sinh năm 1959 ở thị trấn Đ, huyện Đ điều khiển hướng ngược chiều đi đến. Khi xe mô tô ông T điều khiển còn cách đầu xe ô tô của Th khoảng 05 mét, lúc này do xe ô tô đi lấn hết phần đường dành cho xe ngược chiều, xe máy do ông T điều khiển bị đổ, ông T bị ngã xuống mặt đường, bị bánh trước và bánh sau bên trái xe ô tô của Th chèn qua đầu. Hậu quả: Ông T tử vong tại chỗ, xe mô tô bị hư hỏng nhẹ.
Kết quả khám nghiệm hiện trường (Hướng tính Hà Nội - Tuyên Quang)
Hiện trường là đoạn đường Quốc lộ 2, tầm nhìn không bị hạn chế. Mặt đường trải nhựa tương đối phẳng, thẳng, rộng 6,8m. Vạch tim đường kẻ nét đứt màu vàng. Tiếp giáp hai bên mép đường là lề đất, bên ngoài lề đất là rãnh thoát nước có nắp đậy bằng bê tông rộng 0,9m. Cách hiện trường khoảng 40m về hướng Việt Trì là đoạn đường cong cua về bên trái. Tại hiện trường để lại các dấu vết cụ thể như sau:
- Vị trí số (01): vết hằn lốp kích thước 11,2m x 0,15m hình cung, chiều hướng Hà Nội - Tuyên Quang, điểm đầu cách mép đường phải 5,6m, điểm cuối cách mép đường phải 4,5m.
- Vị trí số (02): Tổ chức não dạng hình quạt và vết chà sát mặt đường bám dính vết màu đỏ kích thước 1,8m x 0,24m, chiều hướng Hà Nội - Tuyên Quang. Đầu vết cách mép đường phải 5,4m, Cuối vết trùng với tử thi Nguyễn Đắc T.
- Vị trí số (03): Xe mô tô biển số 19E1-011.23 đổ nghiêng sang trái trên mặt đường, đầu xe hướng Hà Nội, đuôi xe hướng Tuyên Quang. Đầu trục bánh trước cách mép đường phải 6,35m. Đầu trục bánh sau cách mép đường phải 07m.
- Vị trí số (04): Tử thi Nguyễn Đắc T nằm ngửa, vùng đầu bị vỡ hộp sọ. Đầu tử thi hướng Tuyên Quang, hai chân hướng Hà Nội. Đỉnh đầu cách mép đường phải 5,6m.
- Vị trí số (05): Vết cày xước mặt đường, kích thước 0,85m x 0,01m, chiều hướng Tuyên Quang - Hà Nội. Điểm đầu cách mép đường phải 6,48m, Điểm cuối nằm dưới bánh xe phía sau xe mô tô 19E1-011.23, cách mép đường phải 6,6m.
- Vị trí số (06): Mảnh xốp của mũ bảo hiểm bị nứt vỡ bám dính máu và tổ chức não nằm trên mặt đường. Tâm vết cách mép đường phải 5,4m.
- Vị trí số (07): Vết chà sát màu đen kích thước 4,7m x 0,08m, chiều hướng Tuyên Quang - Hà Nội. Điểm đầu cách mép đường phải 6,4m. Điểm cuối trùng với mép đường trái.
- Vị trí số (08): Xe ô tô tải biển số 19C-034.88 đỗ trên mặt đường. Đầu xe hướng Tuyên Quang. Đuôi xe hướng Hà Nội. Hàng bánh xe bên phải trùng với mép đường phải.
Kết quả khám nghiệm phương tiện:
- Xe mô tô biển số 19E1 - 011.23:
Gương chiếu hậu bên trái xoay tròn. Bề mặt ốp nhựa bảo vệ đèn chiếu sáng phía trước bám dính nhiều chất dịch màu nâu đỏ kích thước 35 x 10 cm. Đầu mút tay lái bên trái bị chà sát cao su, bám dính bùn đất kích thước 4 x 2cm. Đầu chắn bùn bánh xe phía trước bám dính chất dính màu nâu đỏ kích thước 04 x 0,2cm. Đầu mút để chân chính người điều khiển bên trái bị chà sát rách cao su hở kim loại kích thước 3 x 1,5cm. Giá đèo hàng phía sau bám dính nhiều chất màu nâu đỏ, điểm cao nhất cách mặt đất 120cm.
Về hệ thống kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống đèn, còi, phanh đầy đủ còn hiệu lực.
Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu định giá đối với xe mô tô biển số 19E1 - 011.23. Hội đồng định giá tài sản huyện Đoan Hùng xác định giá trị thiệt hại của xe mô tô là 55.000đ.
- Xe ô tô tải biển số 19C-034.88:
Bề mặt ngoài lốp trước bên trái phía trước bám dính chất dịch màu nâu kích thước 30cm x 20cm, điểm gần nhất cách chữ cái trong dòng chữ FORTUNE 8cm, tại vị trí này còn để lại vết chà sát mài mòn cao su kích thước 8 x 8cm không xác định chiều hướng. Trên bề mặt thùng dầu bám dính chất màu trắng nâu, điểm cao nhất cách mặt đất 68cm. Bánh lốp sau ngoài cùng bên trái, tại vị trí rãnh mặt lăn của bánh lốp bám dính nhiều chất màu nâu, trên bề mặt lăn bám dính chất màu hồng.
Về hệ thống kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống điều khiển, hệ thống phanh hãm, đèn, còi, gạt nước đều còn hiệu lực.
Kết quả khám nghiệm tử thi:
Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 88 ngày 08/06/2018 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh Phú Thọ kết luận:
“Nguyên nhân tử vong của Nguyễn Đắc T do: Đa chấn thương bao gồm: Gãy nhiều xương trên cơ thể. Vết thương sọ não hở. Chấn thương ngực kín, rách dập nhiều tạng, mất nhiều máu. Nngừng hô hấp, ngừng tuần hoàn cấp không hồi phục.”
Tại bản cáo trạng số: 45 /CT- VKSĐH ngày 16/9/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng đã truy tố Nguyễn Đức Th về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự: Xử phạt Nguyễn Đức Th từ 35.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, bị cáo phải nộp khoản tiền phạt một lần để nộp vào ngân sách nhà nước.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về dân sự: Xác nhận bị cáo đã bồi thường xong cho gia đình bị hại, số tiền là 170.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xác nhận: Cơ quan CSĐT- Công an huyện Đoan Hùng đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Th1 một xe mô tô biển số 19E1- 011.23, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm dân sự, 01 giấy phép lái xe của ông Nguyễn Đắc T; trả cho anh Nguyễn Đức H2 một xe ô tô tải biển kiểm soát 19C- 034.88, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
- Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe.
Bị cáo Nguyễn Đức Th khai nhận đã thực hiện hành vi đúng như nội dung cáo trạng truy tố, không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì.
Đại diện hợp pháp của bị hại không tranh luận, chỉ đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được phạt tiền và giảm nhẹ mức tiền phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong vụ án này, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đức Th khai nhận: Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 31/5/2018, tại Km 102+700 Quốc lộ 2 thuộc địa phận thôn 1, xã T3, huyện Đoan Hùng, Nguyễn Đức Th điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 19C-034.88 tham gia giao thông hướng Hà Nội - Tuyên Quang đi sang phần đường bên trái để vượt xe ô tô tải đang đỗ cùng chiều, đã đi hết phần đường của ông Nguyễn Đắc T đang điều khiển xe mô tô đi ngược chiều. Ông T ngã xuống đường, bị bánh trước và bánh sau bên trái xe ô tô của Th chèn qua đầu. Ông T tử vong tại hiện trường, xe mô tô bị hư hỏng nhẹ.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định pháp y, lời khai người làm chứng và các tµi liÖu kh¸c cã trong hå sơ vụ án, phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận:
Nguyễn Đức Th có giấy phép lái xe ô tô hạng C có giá trị đến ngày 01/7/2021. Ngày 30/5/2018, khi tham gia giao thông, bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 17 Luật giao thông đường bộ, hậu quả làm chết một người.
“Điều 17. Tránh xe đi ngược chiều
1. Trên đường không phân chia thành hai chiều xe chạy riêng biệt, hai xe đi ngược chiều tránh nhau, người điều khiển phải giảm tốc độvà cho xe đi về bên phải theo chiều xe chạy của mình.
2. Các trường hợp nhường đường khi tránh nhau quy định như sau:
………………………….
c) Xe nào có chướng ngại vật phí trước phải nhường đường cho xe không có chướng ngại vật đi trước.
………………………………”.
Hành vi của Nguyễn Đức Th đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
…………………………..”.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
Tuy nhiên, cần xem xét Nguyễn Đức Th được áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đã tích cực bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả và khai báo thành khẩn. Bố đẻ bị cáo có công với cách mạng, được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất; đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Nguyễn Đức Th được áp dụng thêm 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Nguyễn Đức Th không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Để tạo điều kiện cho bị cáo lao động đảm bảo cuộc sống gia đình sau khi đã tích cực bồi thường, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT- Công an huyện Đoan Hùng đã trả cho bà Nguyễn Thị Th1 một xe mô tô biển số 19E1- 011.23, trả cho anh Nguyễn Đức H2 một xe ô tô tải biển kiểm soát 19C- 034.88 và các giấy tờ xe. Việc xử lý vật chứng đúng quy định của pháp luật, cần xác nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong số tiền là 170.000.000 đồng (Bao gồm tiền mai táng phí, tổn thất tinh thần, sửa chữa xe mô tô bị hư hỏng). Việc thỏa thuận bồi thường giữa hai bên là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, cần xác nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Đức Th phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 3 Điều 35 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
* Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt Nguyễn Đức Th 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước. Bị cáo phải nộp khoản tiền phạt một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.
* Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận Nguyễn Đức Th đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền là 170.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi triệu đồng).
* Về xử lý vật chứng:
- Xác nhận: Cơ quan CSĐT- Công an huyện Đoan Hùng đã trả cho bà Nguyễn Thị Th1 một xe mô tô biển số 19E1- 011.23, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm dân sự, 01 giấy phép lái xe của ông Nguyễn Đắc T; trả cho anh Nguyễn Đức H2 một xe ô tô tải biển kiểm soát 19C-034.88, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
(Có biên bản về việc trả lại tài sản lưu trong hồ sơ).
- Trả lại cho Nguyễn Đức Th 01 Giấy phép lái xe hạng C số: 250167009987 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Phú Thọ cấp ngày 01/7/2016.
* Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Đức Th phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKS huyện, tỉnh; - Bị cáo; bị hại; - UBND xã N; - Chi cục THADS Đoan Hùng; - Thi hành án hình sự; - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Vũ Thị Minh Hòa |