- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Nguyễn Thị L, bị đơn Võ Văn R"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2018/HNGĐ-ST Ngày 15/5/2018 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên phiên toà: Bà Nguyễn Thị H
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị H
Ông Nguyễn C
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị T – Thư ký Toà án, Toà án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hoà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích T – Kiểm sát viên.
Ngày 15/5/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 10/2018/TLST-HNGĐ ngày 09/01/2018 về tranh chấp ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/4/2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 42/2018/QĐST-HNGĐ ngày 23/4/2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L – sinh năm 1970
Địa chỉ: Thôn X, xã T, thị xã N, tỉnh Khánh Hoà
Có mặt.
- Bị đơn: Ông Võ Văn R – sinh năm 1968
Địa chỉ: Thôn X, xã T, thị xã N, tỉnh Khánh Hoà
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04/01/2018, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày: Bà và ông Võ Văn R kết hôn tại UBND xã T được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 17 ngày 21/4/2003. Quá trình chung sống bà và ông R thường mâu thuẫn vì ông R không lo làm ăn, hay rượu chè rồi đánh đập bà. Bà đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông R không thay đổi. Bà không còn tình cảm với ông R nữa nên yêu cầu được ly hôn ông R.
Về con chung: Ông bà có 02 con chung Võ Hữu T – sinh ngày 08/7/1998 và Võ Hữu S – sinh ngày 26/5/2000. Cháu T đã trưởng thành nên bà không yêu cầu giải quyết. Bà xin nuôi dưỡng cháu S, không yêu cầu ông Riếp cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Bà không yêu cầu giải quyết.
Ông Võ Văn R đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không có lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Theo các tài liệu có trong hồ sơ và lời khai của bà Nguyễn Thị L tại phiên tòa thể hiện: Bà và ông Võ Văn R kết hôn tại UBND xã T được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 17 ngày 21/4/2003. Quá trình chung sống bà và ông R thường mâu thuẫn vì ông R không lo làm ăn, hay rượu chè rồi đánh đập bà. Tòa án đã nhiều lần triệu tập để hòa giải và xét xử nhưng ông R vắng mặt không có lý do. Xét thấy mâu thuẫn giữa ông R và bà L đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L. Về con chung: Ông bà có 02 con chung Võ Hữu T – sinh ngày 08/7/1998 và Võ Hữu S – sinh ngày 26/5/2000. Cháu T đã trưởng thành nên bà không yêu cầu giải quyết. Bà xin nuôi dưỡng cháu S, không yêu cầu ông R cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu S có nguyện vọng ở với mẹ nên giao cho bà L nuôi dưỡng. Tài sản chung: Bà không yêu cầu giải quyết. Bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Toà án nhận định:
1. Về tố tụng: Xét thấy bị đơn ông Võ Văn R đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Về nội dung:
Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L và ông Võ Văn R kết hôn tại UBND xã N được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 17 ngày 21/4/2003. Hội đồng xét xử công nhận đây là hôn nhân hợp pháp.
Bà L yêu cầu ly hôn vì cho rằng quá trình chung sống bà và ông R thường mâu thuẫn vì ông R không lo làm ăn, hay rượu chè rồi đánh đập bà. Toà án đã triệu tập ông R để hòa giải và mở phiên toà xét xử nhưng ông R vắng mặt không có lý do, chứng tỏ ông R không có thiện chí hàn gắn cuộc hôn nhân giữa ông và bà L.
Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà Nguyễn Thị L và ông Võ Văn R đã không còn tình cảm, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Do đó, xét thấy mâu thuẫn giữa ông R và bà L đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L.
- Về con chung: Ông bà có 02 con chung Võ Hữu T – sinh ngày 08/7/1998 và Võ Hữu S – sinh ngày 26/5/2000. Cháu T đã trưởng thành nên bà không yêu cầu giải quyết. Bà xin nuôi dưỡng cháu S, không yêu cầu ông R cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu S có nguyện vọng ở với mẹ nên giao cho bà L nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi cho cháu S.
- Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu giải quyết. Tách yêu cầu chia tài sản chung của ông R thành vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 147; Điều 227; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự,
Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH2014 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L
1. Bà Nguyễn Thị L được ly hôn ông Võ Văn R.
2. Về con chung: Giao con chung tên Võ Hữu S – sinh ngày 26/5/2000 cho bà L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Bà L không yêu cầu ông R cấp dưỡng nuôi con. Ông R có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu giải quyết. Tách yêu cầu chia tài sản chung của ông R thành vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0003561 ngày 08/01/2018 của chi cục Thi hành án dân sự thị xã N; bà L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND thị xã N; - Chi cục THADS thị xã N; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hướng |