vanban.org

Bản án 42/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Chí Linh, tỉnh Hải Dương Tuyên án 05/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Vũ Anh T và Lê Quý H phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.

Xử phạt Vũ Anh T 33 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 03/02/2017. Xử phạt Lê Quý H 27 tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 54 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Anh T cùng đồng bọn phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 10…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Vũ Anh T và Lê Quý H phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CHÍ LINH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2017/HSST
Ngày: 05/7/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

* Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quyết.

* Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Đãng và ông Hoàng Văn Mùi.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Đặng Thái Long - Thƣ ký Toà án nhân dân thị xã Chí Linh - Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Như Sáng - Kiểm sát viên.

Ngày 05/7/2017, tại trụ sở khu dân cƣ (KDC) Trần Hƣng Đạo, thị xã Chí Linh, Hải Dƣơng.

Xét xử sơ thẩm, lƣu động, công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2017/HSST ngày 16/5/2017 đối với các bị cáo:

1. Vũ Anh T; sinh năm 1997; nơi ĐKNKTT: KDC số 9, phƣờng P, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 9/12; Con ông: Vũ Văn K, con bà: Vũ Thị C; tiền án, tiền sự: Chƣa; bị cáo bị bắt tạm giam tại Trại tạm giam Kim Chi- Công an tỉnh Hải Dƣơng từ ngày 03/02/2017 đến nay- Có mặt tại phiên tòa.

2. Lê Quý H; sinh năm 1987; nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện nay: KDC số 11, phƣờng P, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Lê Quý H, con bà: Phạm Thị Kim Y; tiền án, tiền sự: Chƣa; bị cáo bị bắt tạm giam tại Trại tạm giam Kim Chi- Công an tỉnh Hải Dƣơng từ ngày 03/02/2017 đến ngày 12/5/2017 đƣợc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cƣ trú”-Hiện tại ngoại, Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Anh Nguyễn Văn Th; sinh năm 1983; trú tại: KDC số 4, phƣờng P, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng- Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi liên quan: Chị Đồng Thị L; sinh năm 1983; trú tại: KDC số 5, phƣờng P, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng - Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NHẬN THẤY

Các bị cáo Vũ Anh T và Lê Quý H bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau:

Khoảng 18 giờ ngày 06/11/2016, Nguyễn Minh S, Lê Quý H và Vũ Anh T uống bia tại quán bia M thuộc KDC số 6, phƣờng P, thị xã C. Trong lúc đang ngồi uống bia, S nhìn thấy anh Nguyễn Văn Th; sinh năm 1983; trú tại: KDC số 4, phƣờng P, thị xã C đi vào quán để ăn liên hoan cùng đội bóng. Do có mâu thuẫn và xảy ra xô sát giữa S và anh Th từ trƣớc nên khi nhìn thấy anh Th, S bảo H và T không uống bia nữa đi về (T và H không có mâu thuẫn gì với anh Th). H đi ra thanh toán tiền, S và T đi ra xe ô tô của S đỗ trƣớc cửa quán chờ. Khi đi ra đến xe, T hỏi S vì sao lại đi về. S nói về gọi thêm ngƣời để đánh Th. T bảo không cần gọi thêm ngƣời, để T vào đánh trƣớc, S đồng ý. T lấy tại vị trí hộp để đồ trên xe ô tô của S 01chiếc dùi cui điện màu đen, dài khoảng 15cm chạy vòng về phía cửa sau vào trong quán thì gặp anh Th đang đứng rót nƣớc uống. T cầm chiếc dùi cui điện ở tay phải, bấm công tắc cho dùi cui phát ra tiếng kêu “Tạch, tạch” và dí vào vùng mạng sƣờn phải anh Th. Anh Th quay lại ném chiếc cốc thủy tinh đang cầm trên tay về phía T nhƣng không trúng và làm cốc vỡ thành nhiều mảnh. Ngay lúc đó, S hai tay cầm một chiếc gậy gỗ hình trụ tròn, màu vàng, dài khoảng 1m, đƣờng kính khoảng 5cm chạy từ cửa chính của quán vào. Khi đến vị trí phía sau chếch bên trái anh Th thì S vụt một cái theo chiều từ trên xuống dƣới trúng vào đỉnh đầu trái anh Th. S vụt tiếp cái thứ hai thì anh Th đƣa tay ra đỡ đƣợc một đầu gậy và giằng co với S làm cả hai ngã xuống nền nhà. S đứng dậy tiếp tục dùng gậy gỗ đánh vào phần đầu, vai và dùng chân đá nhiều cái vào vùng đầu, mặt anh Th. T tiếp tục dùng dùi cui điện dí nhiều cái vào vùng lƣng và vai trái anh Th. Nghe thấy tiếng ồn ào, H chạy từ phía cửa sau vào bên trong quán thì thấy S đang dùng gậy đánh anh Th, T đang cầm dùi cui điện dí vào lƣng anh Th. H dùng tay phải cầm một chiếc ghế nhựa màu đỏ loại ghế tựa nhãn hiệu Song Long Plastic dùng để ngồi uống bia tại quán vung ghế lên đập 02 đến 03 cái vào vùng lƣng anh Th làm vỡ ghế. Sau đó mọi ngƣời trong quán đến can ngăn nên anh Th vùng chạy đƣợc ra ngoài. H vứt lại chiếc ghế nhựa vỡ tại quán rồi cùng S cầm theo gậy gỗ và T cầm theo dùi cui điện lên xe ô tô đi về. Anh Th bị thƣơng đƣợc đƣa điều trị tại Bệnh viện đa khoa C từ ngày 07/11/2016 đến ngày 11/11/2016 ra viện. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ 01 chiếc ghế nhựa nhãn hiệu Song long Plastic màu đỏ đã bị gãy; 01 chiếc cốc thủy tinh màu trắng đã bị vỡ làm nhiều mảnh. Sau khi gây án, Sơn, T và H đã bỏ trốn khỏi địa phƣơng. Đến ngày 03/02/2017, T và H bị bắt theo lệnh truy nã. Còn S đến nay chƣa bắt đƣợc, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thị xã Chí Linh đã ra lệnh truy nã và tách ra để xử lý sau.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thƣơng thích số 5402/C54-TT11 ngày 08/12/2016, Viện khoa học hình sự - Tổng cục cảnh sát - Bộ Công an kết luận:

+ Kết quả chính: Anh Nguyễn Văn Th bị chấn thƣơng vùng đầu, mắt và xung quanh mắt phải, vai trái và thắt lƣng hai bên.

+ Tỷ lệ phần trăm tổn thƣơng cơ thể: Sẹo vết thƣơng phần mềm vùng thái dƣơng- chẩm trái, không ảnh hƣởng thẩm mỹ: 02%; sẹo vết thƣơng phần mềm đầu ngoài cung mày phải, không ảnh hƣởng chức năng thẩm mỹ: 01%; sẹo vết thƣơng phần mềm mỏm vai trái, không ảnh hƣởng chức năng và thẩm mỹ: 01%; tổn thƣơng mắt phải, thị lực hiện tại là 5/10: 11%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thƣơng cơ thể của anh Th tại thời điểm giám định là 15%.

+ Cơ chế hình thành thƣơng tích: Thƣơng tích tại vùng thái dƣơng- chẩm trái, mắt trái và mỏm vai trái của anh Thuấn do vật tày gây nên.

Tại bản Cáo trạng số 27/VKS - HS ngày 16/5/2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh - Hải Dƣơng đã truy tố Vũ Anh T và Lê Quý H về tội "Cố ý gây thƣơng tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự với các tình tiết định khung là: “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ”.

Tại phiên toà hôm nay:

Các bị cáo Vũ Anh T và Lê Quý H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nhƣ đã khai tại quá trình điều tra. Bị cáo xác định thƣơng tích của anh Th là do các bị cáo gây ra. Nay đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Ngƣời bị hại anh Nguyễn Văn Th không yêu cầu bồi thƣờng thêm. Về hình phạt đối với các bị cáo, anh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính nguy hiểm của hành vi; xem xét, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên các bị cáo Vũ Anh T và Lê Quý H phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.

Áp dụng khoản 2 Điều 104, điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, Điều 20, Điều 53 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Vũ Anh T từ 33 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 03/02/2017.

Áp dụng khoản 2 Điều 104, điểm b, h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, Điều 20, Điều 53, khoản 1, 2 Điều 60 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Lê Quý H từ 27 đến 30 tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là từ 54 đến 60 tháng tính từ ngày tuyên án.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng và án phí của vụ án.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi liên quan,

XÉT THẤY

Lời khai nhận tội của Vũ Anh T và Lê Quý H tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai, bản cung của các bị cáo tại quá trình điều tra vụ án; phù hợp với lời khai của ngƣời bị hại, ngƣời làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 06/11/2016, tại quán bia M thuộc khu dân cƣ số 6, phƣờng P, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng, Nguyễn Minh S khởi xƣớng và dùng gậy gỗ hình trụ tròn, màu vàng, dài khoảng 1m, đƣờng kính khoảng 5cm vụt một cái vào vùng đỉnh đầu trái anh Th và tiếp tục dùng gậy gỗ đánh, dùng chân đá nhiều cái vào đầu, vai, mặt anh Th; Vũ Anh T dùng dùi cui điện dí nhiều cái vào mạng sƣờn phải, lƣng anh Th; Lê Quý H dùng ghế nhựa đập nhiều cái vào lƣng anh Th. Hậu quả anh Th bị tổn hại 15% sức khỏe. Hành vi nêu trên của Vũ Anh T và Lê Quý H đã phạm vào tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự, bởi lẽ:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến một khách thể mà Bộ luật hình sự đã quy định và bảo vệ đó là quyền bất khả xâm phạm về sức khoẻ của con ngƣời. Các bị cáo và đồng bọn đã coi thƣờng pháp luật, xâm phạm trái pháp luật vào thân thể của ngƣời khác gây ra hậu quả nghiêm trọng, gây thƣơng tích cho anh Nguyễn Văn Th với tổn hại sức khoẻ là 15%. Nghiêm trọng hơn, các bị cáo và đồng bọn đã dùng gậy gỗ và dùi cui điện là hung khí nguy hiểm để gây hại. Giữa các bị cáo T, H và anh Th không có mâu thuẫn gì với nhau nên hành vi của các bị cáo đƣợc xác định là phạm tội có tính chất côn đồ. Các bị cáo thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý trực tiếp, mặc dù đã nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm nhƣng vẫn thực hiện. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo không có mục đích tƣớc đoạt tính mạng của ngƣời bị hại nhƣng đã gây tổn hại về sức khỏe với hậu quả nghiêm trọng. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh đã truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Vụ án có nhiều ngƣời tham gia, tuy chỉ là đồng phạm giản đơn, song có ngƣời khởi xƣớng, có ngƣời thực hành tích cực, có sự hƣởng ứng của số đông nên đã làm tăng thêm ý chí, sự quyết tâm của các đồng phạm trong vụ án. Trong vụ án này, S là ngƣời giữ vai trò chính, T và H giữ vai trò đồng phạm. Do vậy với hành vi của mình, các bị cáo T, H phải chịu một hình phạt tƣơng xứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện. Để hình phạt đó không chỉ là sự trừng trị của pháp luật đối với ngƣời phạm tội mà còn là bài học dăn đe, giáo dục chung trong cộng đồng. Đối với Nguyễn Minh S sau khi gây án đã bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra lệnh truy nã khi nào bắt đƣợc sẽ xử lý sau.

Xột về vị trớ, vai trũ, cỏc tỡnh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hỡnh sự, nhõn thõn của cỏc bị cỏo, thấy rằng:

Đối với Vũ Anh T: Bị cáo là ngƣời giữ vai trũ thứ hai trong vụ ỏn sau Nguyễn Minh S. Sau khi đƣợc S khởi xƣớng, bị cáo đó cựng S bàn bạc và trực tiếp dùng dùi cui điện để gây thƣơng cho anh Th. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo là ngƣời có nhân thân tốt. Bị cáo phạm tội thuộc trƣờng hợp gây thiệt hại không lớn; sau khi phạm tội, bị cáo không có tài sản nhƣng đã tác động để gia đình bồi thƣờng thay; thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; ngƣời bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy bị cáo đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, g, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Đối với Lờ Quý H: Bị cáo là ngƣời giữ vai trũ thứ ba trong vụ ỏn. Mặc dự khụng cú sự bàn bạc với S và T nhƣng khi thấy S và T gây thƣơng cho anh Th, H đó tiếp nhận ý chớ, hành động của T và S. Bị cáo đó dựng ghế nhựa đánh nhiều nhát vào ngƣời anh Th. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo là ngƣời có nhân thân tốt, bản thân chƣa có tiền án tiền sự. Bị cáo là ngƣời có nhân thân tốt. Bị cáo phạm tội thuộc trƣờng hợp gây thiệt hại không lớn; lần đầu phạm tội và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội, bị cáo không có tài sản nhƣng đã tác động để gia đình bồi thƣờng thay; thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; Mẹ bị cáo đƣợc Bộ trƣởng Bộ y tế tặng Huy chƣơng vì sức khỏe nhân dân; bố bị cáo đƣợc Nhà nƣớc tặng thƣởng nhiều Huân chƣơng, Bằng khen do có nhiều thành tích trong quân đội; ngƣời bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy bị cáo H đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, g, h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo nêu trên để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Xét cần thiết phải cách ly bị cáo T ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo đƣợc cải tạo dƣới sự quản lý nghiêm của nhà nƣớc trở thành ngƣời công dân tốt, có ích cho xã hội. Đối Lê Quý H phạm tội thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cƣ trú rõ ràng nên không cấn thiết phải cách ly ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phƣơng cũng đủ để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn Th và gia đình S, T, H đã thỏa thuận giải quyết xong về trách nhiệm dân sự. Anh Th đã nhận số tiền bồi thƣờng là 150.000.000đ nay không có yêu cầu bồi thƣờng thêm. Do vậy không đặt ra giải quyết về trách nhiệm dân sự.

Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ 01 chiếc ghế nhựa bị gẫy, 01chiếc cốc thủy tinh đã bị vỡ. Đây là các tài sản của chị L. Nay chị L không yêu cầu bồi thƣờng và không yêu cầu trả lại. Xét các vật chứng này không còn giá trị nên cần thu giữ cho tiêu huỷ theo quy định tại khoản 2 Điều 41 Bộ luật hình sự và điểm b, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với chiếc dùi cui điện và chiếc gậy gỗ, T và S dùng gây thƣơng nhƣng đến nay chƣa thu giữ đƣợc nên không đặt ra xử lý trong vụ án này.

Về án phí: Các bị cáo T, H bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Vũ Anh T và Lê Quý H phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.

Áp dụng khoản 2 Điều 104, điểm b, g, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, Điều 53 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Vũ Anh T 33 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 03/02/2017.

Áp dụng khoản 2 Điều 104, điểm b, g, h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, Điều 53, khoản 1, 2 Điều 60 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Lê Quý H 27 tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 54 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo H cho Uỷ ban nhân dân phƣờng P, thị xã C để giám sát, giáo dục trong thời gian bị cáo chịu thử thách. Trong trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm b, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Thu giữ cho tiêu hủy 01 chiếc ghế nhựa bị gẫy, 01chiếc cốc thủy tinh đã bị vỡ.

Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội. Các bị cáo Vũ Anh T và Lê Quý H mỗi ngƣời phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Báo các bị cáo, ngƣời bị hại biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; ngƣời có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết.

Cỡ chữ